“Trái tim” Xương Điền

Biển cô đơn. Ấy là lúc Xương Điền buồn. Tiếc nuối. Vòm chuông nhà thờ vẫn như muốn đổ dồn dập báo hiệu cho dân làng ngày nào chạy giặc Pháp càn tới. Chuông cũng rung lên, ngân nga ru con trẻ vào giấc ngủ bên sóng biển cồn cào ngày đêm...

Nếu ai có dịp đi dọc đê biển xã Hải Lý, Hải Hậu, Nam Định, ắt sẽ gặp những ngôi nhà thờ đổ vỡ hoang tàn nhấp nhô trên sóng triều dâng. Khi biển lặng, triều rút, những phế tích ấy mới lộ diện. Có khi chỉ là nền móng, hay những bức tường lởm chởm, hoang vu. Nhưng khi đến làng chài Xương Điền, mọi người sẽ phải ngỡ ngàng khi nhìn thấy một ngôi nhà thờ đổ sừng sững trên biển. 

Cuộc rượt đuổi của sóng biển

Ngôi nhà thờ đổ từ xưa đã có cái tên “Trái tim”, thật mơ mộng trước biển khơi. Phần kiến trúc còn sót lại trụ vững trước những đợt sóng biển ào ạt suốt ngày đêm, tạo nên quang cảnh kỳ thú. Người dân kể, cách gần ba mươi năm, dân làng Xương Điền còn sinh sống xung quanh nhà thờ. Đây là vùng giáo xứ lâu đời. Nhà thờ “Trái tim” ở giữa làng Xương Điền xưa.

Sự biến đổi khí hậu trở nên khắc nghiệt. Đất của xã Hải Lý bị biển lấn dần. Triền miên sóng vỗ. Thiên nhiên dữ dằn tàn phá cả một vùng đất rộng lớn. Biển lấn đến đâu, ngư dân Xương Điền lùi đến đó, mỗi năm một sâu. Họ lùi dần đến sát nhà thờ. Sóng biển tiếp tục dâng cao. Nước mênh mông ngập quanh nhà thờ. Từ đó dân phải rơi nước mắt rời xa ngôi nhà “Trái tim” của mình. Một ngôi nhà thờ mới được xây sâu trong làng để tránh biển lấn. Hàng ngày họ chỉ đứng trên đê nhìn “Trái tim” lụi tàn, đổ vỡ.

Nhà thờ đổ ở làng Xương Điền có tên là “Trái tim”.
Nhà thờ đổ ở làng Xương Điền có tên là “Trái tim”.

Ngày qua ngày, từng mảng tường sập đổ theo con nước. Nhưng không ngờ ba tầng có gác chuông vẫn kiên gan trước sóng gió và bão tố. Có lẽ nền móng ngôi nhà thờ đã hóa đá. Gác chuông trở thành con mắt biển nhìn về làng. Thấy vậy, mọi người khuân đá về, quây chung quanh nền móng cho vững chắc hơn. Họ không muốn tan vỡ hình ảnh “Trái tim”.

Chung quanh nhà thờ là bãi cát rộng bao la. Mỗi khi triều xuống là trẻ con trong làng lại ra thả diều. Bãi cát trở thành sân chơi cho cánh thanh niên hẹn hò, ca hát, nhảy múa. Mỗi khi có lễ hội, nhà thờ đổ lại là nơi thập phương tụ về, thi chạy cà kheo, thi diều và bơi vượt sóng.

Biển cô đơn. Ấy là lúc Xương Điền buồn. Tiếc nuối. Vòm chuông nhà thờ vẫn như muốn đổ dồn dập báo hiệu cho dân làng ngày nào chạy giặc Pháp càn tới. Chuông cũng rung lên, ngân nga ru con trẻ vào giấc ngủ bên sóng biển cồn cào ngày đêm.

Bất ngờ hơn, cảnh sắc ảm đạm cô đơn của ngôi nhà thờ mỗi khi biển cuộn sóng đã thu hút hàng trăm đôi cô dâu, chú rể về tạo dáng. Họ muốn có bộ ảnh độc đáo trước khi làm lễ thành hôn. Nhất là có những tay săn ảnh còn ngủ qua đêm ngay tại nền nhà thờ, chờ cho đến lúc bình minh lên để chớp lấy khoảnh khắc đắt giá nhất của nhà thờ.

Những ô cửa còn khắc khoải với thời gian. Viên gạch đỏ au mặc cho sóng biển và gió táp luôn luôn tươi mới. Mỗi nghệ sĩ sẽ có một bình minh biển của mình.

Biển cồn. Những đợt sóng như muốn ngoạm lấy “Trái tim” của dân làng. Hơn hai mươi năm qua, gác chuông vẫn ngong ngóng hướng về làng. Chính những lúc này, ngôi nhà thờ đổ có sức quyến rũ với mọi người. Một mái vòm nhà thờ nhấp nhô trước những con triều dâng. Lưỡi sóng biển chờm lên, để lại những bọt nước trắng xóa quanh móng nhà thờ. Một hình ảnh mang âm hưởng của bản hợp xướng bi hùng của thiên nhiên.

Cho dù đến một ngày nào đó, “Trái tim” Xương Điền gục ngã, mọi người vẫn coi đó là một biểu tượng sức mạnh của con người chống chọi thiên tai. Vì đó là ngôi nhà “Trái tim” của dân làng. Một vẻ đẹp mong manh trước biển. Một nhịp đập khắc khoải nhất của “Trái tim”. Sự hiện hữu đến kỳ lạ, một sắc đẹp tàn phai nhưng lại kỳ thú xiết bao.

Biển nắng. Nhà thờ đổ in bóng trên bãi cát. Những quán hàng mọc lên thành dãy như phố chợ. Không khí có phần náo nhiệt. Thêm nữa, diêm dân xứ Xương Điền đang chuẩn bị vào lễ hội. Bọn trẻ tập đi cà kheo trên cát cứ thi nhau ngã như sung rụng. Đây là trò chơi xuất phát từ công việc mưu sinh của dân làng. Mỗi khi con nước lên, ngư dân phải đi cà kheo ra xa bờ cất vó.

Nắng xiên. Bóng nhà thờ lung linh in trên bãi cát. Hình ảnh mỗi lúc một khác nhau. Có cặp đôi chụp ảnh cưới cũng đòi tập đi cà kheo để chụp ảnh một nụ hôn trên cao. Họ muốn bóng của nụ hôn sẽ in lên gác chuông nhà thờ. Một ý tưởng đẹp không tưởng. Họ đâu có biết ngư dân đi cà kheo bao giờ cũng phải cao chừng mét rưỡi mỗi khi lội biển kéo lưới.

Hội làng “Biển nhớ”

Xương Điền xưa nghèo lắm. Dân đánh cá và làm muối quanh năm chả đủ ăn. Ngôi nhà thờ “Trái tim” là niềm an ủi tinh thần của làng cũng bị hủy hoại. Cuộc xâm lấn của biển vẫn tiếp tục. Đất làng Xương Điền rơi tõm vào cái miệng sóng bào mòn từng tấc một. Nhưng giờ đây đã khác. Con đê canh biển mỗi ngày một vững chãi ngăn biển xâm thực.

Một phần xã Hải Lý trở thành thị trấn Cồn. Dân Xương Điền cũng được nhờ, làm ăn buôn bán, nhà cửa khang trang. Khi chúng tôi đến Nhà Văn hóa, mới hay ở Hải Lý còn có đội trống nữ, bên cạnh đội kèn của làng. Họ đang tập luyện chuẩn bị vào hội xuân. 

Những ngư dân làng biển đi cà kheo đánh cá.
Những ngư dân làng biển đi cà kheo đánh cá.

Riêng nhóm hát quên cả ăn trưa vẫn say sưa luyến láy. Đó là khúc dân ca cổ truyền “Đi ô”. Một điệu hát đuổi vui tươi và có phần tình tứ. Các chàng trai cầm ô đi dự hội làng. Những cô gái tham dự hát đuổi đứng đợi bên đường để bày tỏ nỗi niềm. Hát đối, nhưng nối vần nối điệu liên tục, nên gọi là hát đuổi. Bài hát “Đi ô” độc đáo ở chỗ đó. Lời ca của các cô gái nhí nhảnh, bâng quơ, có phần đùa vui, rằng: “Hỡi anh đi cái ô đen. Có chồng thì em đây vẫn đợi. Có quen em đây vẫn chờ. Đừng đi như thể bàn cờ. Lâu nay anh nhớ sao giờ anh quên”.

Những chàng trai nối điệu ví von, hát đuổi theo: “Sột soạt như cái lá chuối khô. Lòng anh chỉ muốn đi ô với nàng…”. Cuối cùng hai bên cùng hòa. Lời ca đong đưa ngọt lừ: “Ước gì ta hóa ra ong. Để ta làm tổ trong lòng cái ô”. Chúng tôi nghe thực sự bị cuốn hút vào làn điệu và lời ca dễ thương. Những chàng trai cô gái ấy chính là ngư dân vùng biển Xương Điền.

Những mẻ cá cơm Xương Điền làm nước mắm ngon có tiếng. Họ hát như dạo chơi. Tâm hồn lạc quan, muốn xóa đi cái tất bật lo toan trong ngày. Họ cười đùa với chính mình, vượt qua cái nắng gay gắt của vùng biển mặn. Đôi bên trao gửi ước mơ, yêu thương và hóa giải những trăn trở nhọc nhằn.

Chúng tôi đang say sưa hòa nhập vào không khí vui nhộn của tiết mục “Đi ô”, bất ngờ từ phía khu nhà hàng bên nhà thờ đổ vang lên giọng hát của Khánh Ly, với giai điệu “Biển nhớ”.

Đúng là khó quên. Những khoảnh khắc đáng yêu. Lời ca bịn rịn lòng người trước cuộc chia xa. Giọng hát trầm ấm, vang vọng của Khánh Ly bay trong không gian biển. Ngôi nhà thờ nghiêng nghiêng soi bóng dưới con nắng trong veo.

Được nắng - trắng muối

Hình ảnh về những hạt muối nghĩa tình của Xương Điền bất ngờ được nói tới khi chúng tôi đi qua những ruộng muối chia thành từng thửa ô dọc đường. Do biển xâm lấn, ruộng muối của người dân hiện không còn nhiều. Đời sống diêm dân vẫn vất vả như xưa, đúng với câu ca: “Sém cháy thịt da, mới ra hạt muối”. Cho dù công nghệ mới đã được áp dụng nhưng chỉ dừng lại ở khâu chế biến.

Công việc khổ ải nhất trên ruộng muối vẫn phải đầu tắt mặt tối. Mà nghề muối cũng chỉ làm được khoảng 5 tháng vào mùa nắng. Giá muối lại bấp bênh. Nhưng dân Xương Điền, cũng như toàn xã Hải Lý vẫn chịu khó phơi nắng, lao động từ sáng đến tối. Vậy mà họ vẫn hát về công việc với niềm vui hồn nhiên: “Đôi ta thoát khỏi cảnh nghèo. Đong đưa gánh muối ta theo nhau về”. Đó là tình yêu quê hương. Hạnh phúc của họ là những hạt muối trắng tinh.

Câu chuyện chúng tôi bỗng đổi hướng khi có một người đố ai giải thích được vì sao dân có tục đầu năm mua muối. Có người nói, muối đem lại sự may mắn. Người lại giải thích, muối tượng trưng cho sự mặn mà, tình cảm ấm áp trong gia đình. Hay có ý rằng, muối biểu tượng cho sự trong trắng, tinh khiết mà mỗi người cần có.

Rồi bất ngờ có người lại đưa ra lời đố bình câu ca dao: “Muối ba năm muối đang còn mặn. Gừng chín tháng gừng hãy còn cay. Đôi ta nghĩa nặng tình dầy. Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”. Cứ thế chúng tôi cứ lan man đủ mọi thứ chuyện về cái xứ Xương Điền này. Tiếng kèn lanh lảnh bay khắp làng. Phía ngoài kia, sóng biển ào ạt vỗ vào chân đê, trắng xóa cả một vùng.

Vương Tâm - Xuân 2019

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".