Tình con... Đông và Tây!!!

Phương Đông có truyền thống coi trọng "chữ hiếu" đến mức lấy đó làm nền tảng của ngôi nhà nhân cách con người, rộng hơn là cho cả ngôi nhà đạo lý xã hội. Nho giáo có câu: "Bách hạnh dĩ hiếu vi tiên" (trong trăm đức thì lấy hiếu làm đầu). Hiểu theo lối chiết tự thì chữ "hiếu" có hai bộ, gồm bộ "lão" chỉ người già ở phần trên và bộ "tử", chỉ con cái ở phía dưới. Hàm ý nói về hình ảnh một người con cõng cha (mẹ) già.

Nho giáo có hẳn một quyển sách có tên "Hiếu kinh" bàn về vấn đề này, trong đó khẳng định: "Hiếu là gốc của đức". Sách dẫn lời dạy của Khổng Tử về đạo làm con với cha mẹ: phải phụng dưỡng hết sức cung kính, vui vẻ; đau ốm phải lo lắng hết lòng; việc tang lễ phải cực kỳ thương xót; cúng giỗ phải vô cùng trang nghiêm. Nho giáo lấy những tấm gương để răn đời như chuyện Lão Lai đã bảy mươi tuổi còn giả vờ làm trẻ con ăn mặc múa hát như trẻ con để cha mẹ vui.

Lại nêu gương những người học giỏi, đỗ đạt cao, được giao chức quan lớn nhưng chẳng may bố/mẹ chết mà từ bỏ tất cả về chịu tang, làm nhà cạnh mộ ba năm để "hương khói"… Lại có những "gương" quái gở, vì "chữ hiếu" với cha mẹ mà hết sức vô nhân với con cái. Thế là "chữ hiếu" cũng đa dạng, có "trung hiếu" và cả "ngu hiếu".

Chính Tăng Tử học trò Khổng Tử đã thốt lên một câu thật "biện chứng" trong sách "Hàn Thi ngoại truyện": "Trùy ngưu tế mộ, bất như kê đồn chi đãi thân tồn dã" (Giết trâu tế mộ, không bằng giết con gà đãi cha mẹ lúc còn sống). Về điểm này, tục ngữ Việt Nam cũng có câu tương tự: "Sống không cho ăn, chết làm văn tế ruồi"…

Tình con... Đông và Tây!!! -0
“Lão Lai Tử làm cha mẹ vui” (Tranh cổ Trung Hoa).

Phật giáo coi cha mẹ là phương Đông, phương của mặt trời mọc, tức đề cao hết mực cha mẹ, như mặt trời vậy, có mặt trời mới có sự sống. Phật dạy kẻ nào ngược đãi cha mẹ, khi chết sẽ bị đày xuống âm ty để chịu hình phạt quỷ dữ cắn xé. Truyện thơ Nôm "Mục Liên Thanh Đề" của người Việt là sự minh họa bằng cách thơ hóa câu chuyện Mục Kiều Liên cứu mẹ trong Kinh Vu lan-bồn Phật.

Truyện kể người mẹ Thanh Đề mắc tội bị đày xuống âm phủ. Để cứu mẹ, người con sang Tây phương cầu Phật. Phật đổi tên thành Mục Liên, cho quy y, ban sắc Phật rồi cho xuống âm phủ tìm mẹ. Phải qua bao thử thách ghê gớm, cuối cùng người con cũng toại nguyện. Quan niệm theo luật nhân quả, Phật dạy chúng sinh: "Nếu mình hiếu với mẹ cha/ Thì con cũng hiếu với ta khác gì/ Nếu mình ăn ở vô nghì/ Đừng mong con hiếu làm gì hoài công".

Người Việt coi chữ hiếu là mạch nguồn: "Công Cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ Mẹ kính Cha/ Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con". Có biết bao truyền thuyết, cổ tích minh họa cho điều ấy. Bốn cây cột truyền thuyết sừng sững nâng đỡ ngôi nhà đạo lý Việt, gồm: Thánh Gióng, Sơn Tinh, Chử Đồng Tử, Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Trong "Tứ bất tử" (bốn vị thánh không chết) ấy, thì hình tượng Chử Đồng Tử là điển hình cho "chữ hiếu".

Vì quá nghèo, trước khi chết người cha dặn con cứ táng trần cho bố còn khố giữ lại để con mặc. Người con không nỡ vậy. Đây không chỉ là "chữ hiếu" mà còn là phong tục tang ma ngày xưa với quan niệm "trần sao âm vậy" và "nghĩa tử là nghĩa tận", dành cho người đi xa mãi mãi những điều kính trọng, thương nhớ.

Muốn cha xuống âm phủ còn có cái khố che thân, Đồng Tử đã không chỉ tròn "chữ hiếu" mà còn tròn với phong tục, tập quán. Không chỉ làm tròn trách nhiệm người con mà tròn cả trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ một công dân! Truyện là sự giao thoa các tư tưởng triết học lớn Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo. Sau này nhờ phép thuật mà Chử Đồng Tử có binh hùng tướng mạnh nhưng vẫn không chống lại quân vua Hùng (tức bố vợ) vì chàng muốn giữ tròn "chữ hiếu".

Hình tượng Chử Đồng Tử lại trở thành "cổ mẫu" đẻ ra biết bao những "mẫu con". Ví như ngụ ngôn kể có chàng thiếu niên mồ côi cha, nhà nghèo nhưng quyết chí học, đỗ đến Trạng nguyên. Được vào sân rồng dự tiệc vua khoản đãi, thấy có nhiều sơn hào hải vị, nhớ đến mẹ cả đời tần tảo nuôi mình chưa biết đến miếng ngon, chàng nuốt không nổi, chỉ nghĩ cách làm sao mang về… Bèn lén cho một quả đào ngon nhất vào tay áo. Không ngờ lúc bái biệt vua, quả đào rơi ra.

Cả triều đình thất kinh, ngỡ ngàng: Trạng nguyên lại là kẻ ăn trộm! Nhà vua sững sờ… Chàng tình thực tâu lý do. Nói đến đâu, cả sân rồng điện ngọc như nín thở, rồi vỡ òa khi vua phán đây là một Trạng nguyên xứng đáng, một tấm gương tiêu biểu cho "chữ hiếu". Rồi vua sai mang những gì ngon lành, quý nhất tới người mẹ Trạng nguyên. Chàng được phong Thượng thư rồi làm phò mã.

Truyện Nôm "Thoại Khanh - Châu Tuấn" kể chuyện Thoại Khanh có chồng là Châu Tuấn phải đi xa, ở nhà gặp cơn nguy biến, nàng đưa mẹ đi ăn xin, lúc mẹ đói, Thoại Khanh cắt thịt mình cho mẹ chồng ăn... Những dinh dưỡng văn hóa từ những câu chuyện ấy cứ ngấm dần vào nhân cách người Việt "hiếu nghĩa"!

Tình con... Đông và Tây!!! -1
"Con gái cho cha bú trong khám tử hình" - tranh của Peter Paul Rubens (Bảo tàng Hermitage).

Đã là con người, ở đâu, thời nào cũng vậy, "chữ hiếu" luôn là một hằng số, nhưng chịu sự quy định của những ánh hồi quang, những khúc xạ văn hóa nên được thể hiện bằng những biểu tượng khác nhau. Hình như mỹ cảm phương Tây thiên về thị giác nên chủ đề này thường được thể hiện trong hội họa, trong đó nổi tiếng nhất là bức tranh sơn dầu "Con gái cho cha bú trong khám tử hình" của họa sĩ Peter Paul Rubens (vẽ năm 1612), được trưng bày tại Bảo tàng Hermitage (Liên bang Nga).

Lấy đề tài từ thần thoại La Mã kể về một người đàn bà bị hành hình bằng cách bắt nhịn đói đến chết. Người con gái tử tù xin phép vào thăm mẹ… Quản ngục ngạc nhiên sau nhiều ngày tử tù vẫn sống. Bí mật theo dõi ông ta phát hiện cô con gái đã kín đáo vạch vú cho mẹ bú. Cảm động trước một lòng hiếu thảo hiếm có, ông trình lên Toà án và được Bồi thẩm đoàn quyết định tha bổng... Câu chuyện gợi về lòng trắc ẩn sâu thẳm của con người và tinh thần mộ đạo, thế nên hầu hết các họa phẩm minh họa câu chuyện đều lấy tiêu đề "Roman Charity" (Tổ chức từ thiện La Mã).

Đến thế kỷ XVII câu chuyện truyền vào châu Âu và nhanh chóng được lấy làm cảm hứng, đề tài cho nhiều kiệt tác nghệ thuật, trong đó có bức tranh trên. Nhưng để phù hợp với tinh thần nhân văn và sâu sắc hơn chủ đề "chữ hiếu", hình tượng nhân vật người mẹ được thay bằng người cha với mô típ: Ông lão Cimon bị kết án tử hình bằng cách bỏ đói trong ngục. Người con gái Pero vừa mới sinh con, vào thăm, cứu cha bằng chính những giọt sữa của mình… Cảm động sâu sắc trước hành động thiêng liêng, cao quý của tình con, bồi thẩm đoàn quyết định trả tự do cho Cimon.

Nhưng không chỉ có một bức tranh trên, theo giới nghiên cứu tạo hình, có hẳn hơn 300 tác phẩm hội họa và điêu khắc về chủ đề này. Thế là chỉ từ một "cổ mẫu" ban đầu tận xa xưa bên La Mã đã nảy nở hàng trăm "mẫu con" ở mảnh đất châu Âu. Thì ra một khi nghệ thuật đã nói lên được cái hằng số chung thì chẳng còn của riêng xứ sở nào nữa. Tự hình tượng sẽ cất cánh bay vào mọi chân trời văn hóa mà không có vật cản. Nhưng chắc chắn một điều là người ta sẽ không hiểu sâu nội dung bức tranh nếu không biết cội nguồn câu chuyện.

Chiếm lĩnh nghệ thuật không chỉ là câu chuyện tài năng, thị hiếu mà còn là vấn đề về vốn sống, vốn hiểu biết. Vì vậy người ta mới kể rằng, mới xem bức tranh, chưa biết gì về xuất xứ, nên nhiều người (thời đó), kẻ thì mỉm cười… xấu hổ, người thì quy chụp "mang vấn đề đạo đức". Nhưng khi được giới thiệu, tất cả mới bừng tỉnh… Thế là các nhà đạo đức lại có lời khuyên rằng: đừng vội vàng đánh giá những hiện tượng có bề ngoài tưởng là "phi đạo lý". Hãy tìm về cội nguồn vấn đề, rồi so sánh, ngẫm nghĩ, phân tích… sẽ thấy sâu thẳm trong đó bao ý nghĩa nhân văn!

Phải chăng có nguyên lý này: thấu hiểu cuộc đời, thấu cảm lẽ người mới có thể kiến tạo được tác phẩm và hiểu tác phẩm. Nghệ thuật bắt gốc từ đời sống để làm xanh tươi sự sống!

Nhìn về ngày xưa lại càng thấy "chữ hiếu" nay bị nhạt đi quá nhiều, thậm chí đảo lộn. Đã rất nhiều cách lý giải đưa ra từ nhiều góc độ đạo đức, chính trị, kinh tế, xã hội… nhưng qua những câu chuyện như trên, thấy thêm một lý do: vì con người ngày một xa rời nghệ thuật. Không chỉ là cái đẹp, nghệ thuật còn là đạo lý, chân lý. Quay lưng với nghệ thuật, con người sẽ tự đánh mất tính người. Tiếc thay!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).