“Tín dụng đen” mối nguy đang tồn tại?

Người nghèo làm nghề tự do rất khó có thể tiếp cận với nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại. Bởi lẽ, dù có vay tín chấp thì người vay cũng phải chứng minh thu nhập qua các hồ sơ, chứng từ phù hợp. 

Bài cuối: Nhiều mô hình hay ngăn chặn cho vay nặng lãi

Người nghèo làm nghề tự do rất khó có thể tiếp cận với nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại. Bởi lẽ, dù có vay tín chấp thì người vay cũng phải chứng minh thu nhập qua các hồ sơ, chứng từ phù hợp. Trong khi đó họ buôn bán tự do, làm thuê ăn lương công nhật… nên không thể đáp ứng yêu cầu. Do đó, một số tổ chức tín dụng dành cho người nghèo đã thật sự là cứu cánh cho không ít người thoát được vay nặng lãi.  Tuy nhiên, nguồn vốn ấy vẫn chưa thể đủ cho nhu cầu xã hội…

Hiệu quả từ Quỹ tín dụng nhân dân

Quỹ tín dụng nhân dân (TDND) là mô hình tín dụng dành cho người nghèo rất thành công ở Đức, Canada và Hàn Quốc. Ở Việt Nam, Qũy TDND xuất hiện cách đây hơn 20 năm, hiện toàn quốc có gần 1.200 Qũy TDND hoạt động ở 57 tỉnh, thành với tổng tài sản hơn 100.000 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 10-2017, quỹ đã cung cấp tín dụng cho khoảng 8-9 triệu người với số tiền vay khoảng 76.000 tỷ đồng. 

Khác với ngân hàng, các Qũy TDND chỉ được hoạt động theo địa bàn, huy động từ các thành viên trong địa phương và cũng chỉ được cho vay chính các thành viên đó. Mô hình này được đánh giá là một trong những cách tốt nhất để hạn chế “tín dụng đen”, nhất là ở các vùng nông thôn.

Điểm nổi bật của Qũy TDND là người vay không cần thế chấp, không cần chứng minh thu nhập nhưng phải là thành viên của quỹ. Để đăng ký thành viên, người vay phải thường trú trên địa bàn mà quỹ được phép hoạt động, góp lần đầu 300 ngàn đồng, sau đó mỗi năm góp 100 ngàn đồng để duy trì thành viên. 

Qũy TDND Long Phú, quận 9.
Qũy TDND Long Phú, quận 9.

Do thành viên HĐQT đều là người ở địa phương, hiểu rõ hoàn cảnh của các thành viên nên việc xét duyệt cho vay khá dễ dàng, nhanh chóng. Thủ tục vay tín chấp từ 1-2 ngày, vay thế chấp khoảng 3 ngày là được giải ngân. Do vậy mà quỹ này rất phù hợp với người nghèo cần vốn kinh doanh buôn bán nhỏ, cần tiền gấp để chữa bệnh, đóng học phí cho con…

Thực tế, ở địa phương nào có Qũy TDND thì ở đó tình trạng cho vay giảm hẳn, nhiều tiểu thương ở các chợ nhờ Qũy TDND mà thoát được “tín dụng đen”.

Ông Lê Xuân Anh, Chủ tịch HĐQT Qũy TDND Long Phú (đặt trên địa bàn phường Phước Long A, quận 9) cho biết: Qũy TDND Long Phú được thành lập từ năm 2012, vốn điều lệ 5,2 tỷ đồng, vốn huy động 32 tỷ đồng và đã cho vay gần 33 tỷ đồng. Người vay chủ yếu lấy vốn để kinh doanh mua bán, mua phương tiện mưu sinh (xe gắn máy, xe nước mía, xe bánh mì…) và các trường hợp cần tiền gấp khác.

Lãi vay cũng tương đương với ngân hàng thương mại, lãi huy động từ bằng đến cao hơn 0,5%/năm so với ngân hàng. Người vay tín chấp cao nhất ở Long Phú là 100 triệu đồng, vay thế chấp 600 triệu đồng. “Thành viên nào đó cần vay 20 triệu đồng để mua xe gắn máy chạy xe ôm, chúng tôi xem xét gia cảnh của họ, nếu thực tế đúng người đó có chí thú làm ăn để cải thiện kinh tế gia đình là xét duyệt cho vay.

Nếu vay thời hạn 2 năm chẳng hạn thì thành viên đó chỉ cần dành dụm mỗi tháng 1 triệu đồng là dư sức trả nợ nên ít ai mất khả năng chi trả. Do vậy mà nợ xấu ở Long Phú chỉ khoảng 0,7%, đa phần rơi vào trường hợp vay từ 5 triệu đồng trở xuống. Mà đối tượng này phần lớn vay khẩn cấp để giải quyết công việc khó khăn đột xuất. Họ cho biết sẽ cố gắng tối đa để trả nợ cho quỹ”-ông Lê Xuân Anh bộc bạch.

Qũy TDND hiệu quả là vậy, song, với địa bàn hoạt động trải dài trên 4 phường mà Qũy TDND Long Phú chỉ có 760 thành viên được xem là quá khiêm tốn so với nhu cầu mà lý do được xác định là do công tác tuyên truyền, quảng cáo còn hạn chế. Nhiều người mua bán nhỏ ở lề đường khi tôi hỏi về Qũy TDND họ đều lắc đầu bảo không biết gì về mô hình này. 

Mặt khác, ở TP Hồ Chí Minh hiện có 19 Qũy TDND hoạt động chỉ ở 12 quận, huyện vùng ven, ngoại thành nên vẫn còn khá nhiều người nghèo chưa tiếp cận với nguồn vốn này. Ở các tỉnh, thành khác cũng vậy, Qũy TDND cũng chưa được trải đều trên khắp các địa bàn. 

Đặc biệt hơn, do Qũy TDND chỉ cho vay với thành viên có đăng ký thường trú trên địa bàn hoạt động nên đối tượng chính là người tạm trú lại không được vay, đó là một thiệt thòi, một bất cập cần được tháo gỡ.

CEP mô hình hay nhưng cũng chưa đủ mạnh

Đầu thập niên 90 thế kỷ 20, Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh thực hiện nhiều cuộc khảo sát, học tập những mô hình tạo việc làm và cải thiện an sinh cho người nghèo hiệu quả của một số quốc gia trên thế giới. Trong đó, mô hình Ngân hàng Grameen của Bangladesh – được xem là mô hình phù hợp nhất với bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam thời điểm đó. 

Tháng 7-1991, Liên đoàn Lao động TP Hồ Chí Minh mạnh dạn thực hiện thí điểm một số chương trình tín dụng, tiết kiệm theo mô hình trên tại quận 1, Gò Vấp, huyện Củ Chi và Cần Giờ. Khi đạt được kết quả khả quan, tháng 11-1991, UBND TP Hồ Chí Minh ra quyết định cho phép Liên đoàn Lao động TP chính thức thành lập “Quỹ trợ vốn cho Người Lao Động nghèo tự tạo việc làm”, gọi tắt là quỹ CEP. Mục đích của quỹ là xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân lao động, hỗ trợ những khoản vay nhỏ giúp họ tạo việc làm, tăng thu nhập, phấn đấu làm ăn vươn lên, cải thiện tình trạng nghèo đói.

Giữa năm 2001, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Australia đã ký kết thỏa thuận “Mở rộng hoạt động tài chính vi mô của quỹ CEP”. Tháng 10-2017, Quỹ CEP chính thức chuyển đổi thành “Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm” với tên gọi tắt là “Tổ chức tài chính vi mô CEP”. 

Ông Nguyễn Tấn Đạt, Phó tổng giám đốc Tổ chức tài chính vi mô CEP cho biết, nguồn quỹ cho vay của CEP hiện nay khoảng 3.500 tỷ đồng, trong đó vốn chủ sở hữu chiếm 30%, còn lại huy động từ các tổ chức trong và ngoài nước. 

Đã có 320.000 thành viên vay vốn với hơn 3.200 tỷ đồng, trong đó 65% là đoàn viên công đoàn, công nhân và hộ gia đình công nhân; 35% còn lại là người lao động bình thường có hoàn cảnh khó khăn. Việc vay qũy CEP khá đơn giản, nếu là công nhân thì chỉ cần được Công đoàn cơ sở giới thiệu là được xét duyệt cho vay. 

Còn người lao động tự do bên ngoài thì CEP sẽ phối hợp cùng Ban điều hành khu phố, ấp tuyên truyền, lập danh sách người cần vay và được xét duyệt theo từng đợt. Lãi suất vay khoảng 0,6-0,65%/tháng, người vay có thể trả góp theo tuần, theo tháng tùy lựa chọn. 

Quỹ CEP mở rộng hơn so với Qũy TDND là cho vay luôn cả với người có KT3 chứ không nhất thiết phải có hộ khẩu thường trú. Đặc biệt hơn, Quỹ CEP còn giúp cho người vay được tiếp tục vay khẩn cấp khi việc làm ăn buôn bán, chăn nuôi, trồng trọt…bị thất bại khi vay vốn lần đầu. Đồng thời CEP còn phối hợp cùng chính quyền địa phương, ban, ngành, đoàn thể hỗ trợ tư vấn kỹ thuật, chuyên môn để giúp họ thành công cho lần vay sau. 

Ở huyện Củ Chi có khá nhiều người vay vốn ban đầu để nuôi một con bò nay phát triển lên hàng chục con. Khi cần vay vốn từ Tổ chức tài chính vi mô CEP, người nghèo có thể gọi theo số điện thoại 028.38220959-028.38239100 để được tư vấn, giới thiệu vay vốn.

Cũng giống như Qũy TDND, dù rất cố gắng nhưng Tổ chức tài chính vi mô CEP cũng chỉ mở rộng mạng lưới lên 34 chi nhánh với 17 chi nhánh tại các quận, huyện thuộc TP Hồ Chí Minh và 17 chi nhánh tại các tỉnh Bến Tre, Bình Dương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Long An, Tây Ninh, Tiền Giang và Vĩnh Long. 

Lý do là nguồn huy động vốn gặp khó khăn, rất cần được sự quan tâm của Chính phủ bằng nguồn vốn vay ưu đãi. Ngoài hai nguồn quỹ trên, người lao động nghèo còn có thể vay vốn từ các “ngân hàng người nghèo” khác, tuy nhiên các nguồn vốn ấy cũng chưa đủ mạnh để có thể trải khắp trên đất nước Việt Nam. Do đó, hoạt động cho vay nặng lãi vẫn còn đất sống và giăng bẫy khắp nơi nên mọi người cần phải cảnh giác để tự cứu mình.

Nhóm PV

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.