Đọc trường ca “Cảm ơn Người, sông Mekong” của Lê Tuấn Lộc, NXB Hội Nhà văn, 2022

Tiếng vọng của dòng sông

Trường ca “Cảm ơn Người, sông Mekong”, hay nói cụ thể hơn là những bài thơ của Trúc, của Mai không chỉ là chuyện tình yêu. Đó là chuyện cuộc đời, chuyện dòng sông, chuyện thiên nhiên, chiến tranh và hòa bình, đất nước và nhân loại.

1. Cảm nhận đầu tiên của tôi về trường ca “Cảm ơn Người, sông Mekong” là một trường ca ấn tượng, độc đáo. Ấn tượng bởi mấy nhẽ sau đây: dày hơn 600 trang, khổ rộng 16x24cm. Nhà thơ, TS Lê Tuấn Lộc đã đóng cửa phòng văn hì hục viết trong bảy năm trời; đã thay cho việc đi tìm hiểu, khám phá từ đầu nguồn đến cuối nguồn sông Mekong - dòng sông dài nhất thế giới (4.350km), chảy qua sáu nước Nam Á - bằng việc đọc sách, xem phim, xem ảnh, đi đến nhiều nơi ở cuối nguồn sông Mekong (tại Việt Nam) để tận mắt, tận tai và tận nghĩ về một vùng đất kỳ thú này.

Về sự độc đáo: Trường ca không theo lối viết truyền thống, mặc dù cũng được chia thành tám chương. Tức là, đây không phải “bài thơ cực dài” mà là nhiều bài thơ nối nhau trong một trường liên tưởng, một mạch cảm xúc dạt dào, say đắm. Tôi đã đếm được 175 bài thơ, bài dài nhất 85 câu, bài ngắn nhất 8 câu, mỗi câu 5 chữ.

Tiếng vọng của dòng sông -0
Nhà thơ Lê Tuấn Lộc.

2. Trường ca có thể coi là tiểu thuyết bằng thơ. Câu chuyện kể về tình yêu định mệnh của Măng Trúc và Kiều Mai. Hai nhân vật huyền thoại xuất hiện từ chương đầu đến chương cuối, rõ số phận, hình hài, tính cách. Họ đau khổ đến tột cùng, hạnh phúc đến tột cùng. Họ đã đi từ đầu nguồn sông Tây Tạng (Trung Quốc), qua Myanmar, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan. Dòng sông Phật giáo, dòng sông tâm linh đã che chở họ và chính họ đã giới thiệu với bạn đọc về một vùng văn hóa vô cùng rộng lớn, giàu có, huyền bí.

Măng Trúc - Kiều Mai quen nhau trong một chuyến bay định mệnh đến Nha Trang hội thảo về môi trường trên sông Mekong. Mai, một thi sĩ, tiến sĩ về môi trường. Trúc hơn Mai 15 tuổi. Từ đấy trở đi là một cuộc tình lãng mạn và trắc trở. Hai người đã có 5 năm bên nhau, đi khắp ngọn nguồn sông, từ Lan Thương tới Biển Hồ, sông Cửu Long... Họ ăn ở cùng nhau, mỗi đêm đờn ca trên sông họ quấn vào nhau trong những nụ hôn tan nát cả đất trời. Nhưng, không một lần ái ân. Lời nguyền: chỉ đến khi làm đám cưới thì mới dành cho nhau trọn vẹn.

Bi kịch lớn nhất cuộc đời cũng là bi kịch cuối cùng, vào đêm cuối, khi bài thơ đêm tân hôn Trúc làm và đã đưa Mai đọc thì tai nạn ập đến. Nước sông Hậu cuồn cuộn dâng lên do thủy điện xả nước bất ngờ. Thuyền lật. Mai bị nước cuốn trôi! Đêm tân hôn thay bằng đêm tang lễ. Trúc tìm đến một ngôi chùa và viết bản tình ca, với niềm tin mãnh liệt: Mai sẽ trở về.

Cái khó nhất của câu chuyện tình yêu Trúc - Mai là họ giữ được khoảng cách giữa người yêu và chồng vợ, cái khoảng cách mong manh sương khói đã không bị xóa nhòa trong suốt gần 2.000 đêm ấy, trên dòng sông Mẹ cồn cào, bi tráng. Họ từng có bao đêm “Anh đan vào em như mây đan mây/ Quấn vằn vện như thừng vặn chão”. Ở đây cái giỏi của Lê Tuấn Lộc là đã thi vị hóa tình yêu để lý giải câu chuyện gần như hoang đường này: “Kiều lấy hiếu làm trinh/ Em lấy yêu làm trinh” (Dâng hiến)

Cái chết của người yêu thật đau đớn nhưng không khép lại, vì “Ta đã thành tiên trên trời”, vì họ đã giữ được lời hứa thiêng liêng, tình yêu lớn hơn, cao hơn tất cả, niềm tin vững bền hơn tất cả, sự trong sạch, thánh thiện hơn tất cả. Họ gửi vào nụ hôn tất cả. Để rồi khi còn lại một nửa của Mai trên thế gian, câu hỏi vẫn mãi mãi lay thức chúng ta:

Con người đang tự giết mình
 Ta đớn đau, âm thầm lặng lẽ
 Ta ngửa mặt hỏi trời
 Trời bao la im lặng

                          (Đám cưới thành đám tang)

Con người đang tự giết mình bằng việc ngăn sông đắp đập, làm thủy điện, “ăn rừng”, tàn phá môi trường. Sông Mekong, dòng sông Phật giáo cũng không là ngoại lệ. Giết môi trường đã là vô tình giết người rồi. Nhưng còn có điều đáng sợ hơn, cần phải cảnh báo mạnh mẽ hơn, đó là văn hóa, đạo đức, lẽ sống cũng đang chết dần chết mòn. Nói là “môi trường văn hóa” đang bị vấy bẩn, bị tiêu diệt có lẽ đang còn nhẹ. Khi con người không còn tin vào lòng tốt, khi sự trong sáng trở thành món hàng xa xỉ, khi sự trinh bạch hóa thành trò cười thì, con người có thật Người không?

Thơ ơi, thơ đang ở đâu? Hạnh phúc có thật không?

3. Trường ca “Cảm ơn Người, sông Mekong”, hay nói cụ thể hơn là những bài thơ của Trúc, của Mai không chỉ là chuyện tình yêu. Đó là chuyện cuộc đời, chuyện dòng sông, chuyện thiên nhiên, chiến tranh và hòa bình, đất nước và nhân loại. Thật là thú vị khi bản trường ca - du ca đi khắp các miền đất vừa quen vừa lạ. Ta chiêm ngưỡng Tây Tạng - khởi nguồn của tam giang. Ta lặng ngắm Myanmar - Tam giác vàng. Ta chìm đắm Kinh Phật trắng đêm Luang Prabang. Ta say đọc bài thơ Angcor wat. Ta choáng váng đêm sâu Bangkok - thiên thần đền đài, lăng tẩm, nghìn năm nép bên dòng Chao Phraya. Ta sông Tiền, sông Hậu với trời xanh. Đến đâu du ca cũng chạm đến hai miền hư thực, miền Người và miền Trời.

Vẻ đẹp nguyên sơ, lộng lẫy của những ngọn núi, dòng sông, ngôi chùa, của những điệu múa, câu hò, điệu lý, của những đàn chim... Cái đẹp ấy đều có một ngọn nguồn: sông Mekong. Xuyên suốt trường ca nhiều lần điệp khúc “Nếu không có Tây Tạng”, “Nếu không có sông Mekong” thì điều gì sẽ xảy ra? Nếu không Tây Tạng thì không có sông Trường Giang, sông Hoàng Hà, sông Mekong. Không có Tây Tạng không có Nam Tông, Bắc Tông... Nhưng vĩ đại như Mekong, hiển nhiên như Mekong mà cũng có những người muốn độc chiếm nó: “Ai muốn chiếm sông Mekong thành của riêng mình, muốn gì phán nấy. Để rồi vùng hạ lưu Việt Nam khi cần không có nước, khi không cần thì lũ lụt đầy sông”.

Đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ cái đơn lẻ đến cái khái quát, nghĩ suy của một thế hệ, dáng vóc một dòng sông, tầm vóc một thời đại hiển hiện trong trường ca bằng những hình tượng thơ tiêu biểu, với ngôn ngữ bình dị, thấm đẫm chất dân gian, phù hợp với tiếng nói của người dân mỗi vùng đất mà dòng sông đi qua.

4. Chúng tôi muốn nói đôi điều về thi pháp trường ca “Cảm ơn Người, sông Mekong”. Như đã trình bày ở phần trên, có thể coi đây là cuốn du ca, hoặc tiểu thuyết bằng thơ. Do độ mở ấy, do sự giao thoa về thể loại mà trường ca có sự hòa quyện giữa tự sự và trữ tình. Có những bài thơ, đoạn thơ đầy ắp chi tiết, sự kiện như văn xuôi vậy.

Theo một số nhà nghiên cứu, trường ca có bốn đặc điểm cơ bản: một, được viết bằng thơ; hai, nội dung lớn, được chia thành nhiều phần; ba, chất trữ tình lấn át chất tự sự; bốn, cảm hứng ngợi ca là điểm tựa chủ đạo và nhất thiết phải có nhạc điệu. Cái tôi trữ tình trong trường ca có sự khác biệt so với thơ trữ tình. Khác biệt đó là, chủ thể trữ tình trong trường ca mang sắc thái cộng đồng, thể hiện tính lý tưởng của cộng đồng, sắc thái cá nhân không biểu hiện rõ như trong thơ trữ tình. Ở đây chủ thể trữ tình là Măng Trúc - Kiều Mai, nhưng cuộc đời họ, câu chuyện mà họ kể với chúng ta lại là câu chuyện của dòng Mekong vạm vỡ nuôi lớn những cánh đồng bất tận của lúa, ngô, tôm cá, của thơ ca và cánh đồng Người. Dòng sông ấy còn là “Dòng sông Phật giáo”, không bao giờ chết, trừ khi trái đất này không còn. Và đó là lý do chỉ có vòng tay lớn của trường ca mới đủ sức chứa.

Tiếng vọng của dòng sông -0
Bìa tập trường ca “Cảm ơn Người, sông Mekong'' của nhà thơ Lê Tuấn Lộc.

Trong những năm qua, trường ca đang vận động, nhiều thay đổi về nội dung, hình thức, nhưng phần lớn vẫn kế thừa tính sử thi. Chúng ta cần phải nắm bắt thêm, định dạng lại, ủng hộ sự tìm tòi, cách tân, bởi trường ca cũng như nhiều thể tài khác trong văn chương “không bao giờ bị đông cứng” (M.Bakhtin - nhà nghiên cứu khoa học xã hội, khoa học nhân văn Nga). Ngôn ngữ nghệ thuật là yếu tố rất quan trọng của thi pháp trường ca.

Theo chúng tôi có bốn loại hình ngôn ngữ nghệ thuật thường thấy trong các trường ca hiện đại: ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ biểu cảm, ngôn ngữ phản tư (đặt ra những câu hỏi tự vấn). Trong “Cảm ơn Người, sông Mekong”, ngôn ngữ kể chuyện và đối thoại tiêu biểu nhất. Họ kể chuyện và trò chuyện với nhau và trò chuyện với những di tích cổ xưa, với cỏ cây, muông thú; trò chuyện với chính mình. Đến Xiêng Khoảng của Lào, Mai viết: “Đừng già nhé những trưa thu xanh cỏ/ Cho em qua suối nữa một lần”. Còn khi viết “Sông Cửu Long, bản trường ca bất tử” là nhà thơ đang đối thoại với chính mình:

Sông Cửu Long
Là cái gì không rõ ràng, vô cùng vô tận
Sông chỉ cho không bao giờ nhận

Gấp lại cuốn sách như người vừa leo tới đỉnh dốc. Mệt nhoài mà sung sướng, hạnh phúc. Bỗng vang lên câu hỏi, một câu hỏi phản tư trong tập trường ca: “Nếu mai mất sông Mekong?”. Không. Mekong sẽ không bao giờ mất. Như lý giải của Lê Tuấn Lộc, cái gì để lại di sản khổng lồ sẽ không bao giờ mất được. Đó là tiếng vọng của dòng sông.

Hải Đường

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).