Tiếng cười mỉa mai, chua chát trong "Quốc âm thi tập"

Chỉ xét riêng chữ "cười" theo nghĩa đen xuất hiện nhiều lần trong "Quốc âm thi tập" cũng cho thấy Nguyễn Trãi là một nhà trào phúng: "Ngày tháng bằng thoi một phút cười" ("Ngôn chí", bài 21); "Đến đây rằng hết tiếng chê cười" ("Tự thán", bài 6); "Thế những cười ta rằng đánh thơ" (Tự thán); "Người cười dại khó ta cam chịu" (Bảo kính cảnh giới 14)…

Nguyễn Trãi cười nhiều nhất cho sự trái ngang của cuộc đời. Nhà hiền triết vĩ đại nhiều lần thốt lên "Ở thế nhiều phen thấy khóc cười" (Tự thuật 9). Là một nhà tư tưởng lớn, cũng là một nghệ sĩ lớn, qua cái nhìn mỹ học nho gia, Nguyễn Trãi khái quát cái "khóc cười" ấy vào một chữ "hiểm", cũng là cách châm biếm đời: "đường hiểm, bể hiểm, người hiểm, lòng người cực hiểm…",  "Thế gian đường hiểm há chăng hay/ Càng còn đi ấy thác vay" (Tự thuật 1).

Tiếng cười mỉa mai, chua chát trong
Bìa tác phẩm “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi.

Chữ "vay", từ cổ có nghĩa "hay sao" nên hiểu cả câu là: nếu còn cứ đi trên đường hiểm ấy thì rồi sẽ chẳng gặp nguy mà chết (thác) hay sao. Lời thơ đầy dư ba về sự đắng đót, chua cay: sống tức là đối mặt với sự nguy hiểm của cuộc đời, có thể chết lúc nào không hay. Không ngờ câu nói ấy lại vận vào chính cuộc đời nhà thơ với vụ án oan lịch sử.

Ở một "tự thuật" khác ông viết: "Bể hiểm nhân gian ai kẻ biết?/ Ghê thay thế nước vị qua mềm" (Tự thuật 4). "Bể hiểm" là một ẩn dụ giàu sức liên tưởng, bể thì sâu, nhiều sóng nổi, sóng ngầm, nhiều khi mặt bể êm đềm nhưng sóng dữ đang cuồn cuộn tầng dưới. Hơn nữa "bể hiểm" ấy lại có "nước vị qua mềm". Nguyễn Trãi đã tiếp thu ý của Lão Tử: "Thiên hạ mạc nhu nhược ư thủy, nhi công kiên cường giả mạc chi năng thắng" nghĩa là: không có gì mềm yếu hơn nước, mà chống lại cái cứng mạnh thì cũng không cái gì hơn được nó. Nước ấy lại trong "bể hiểm" thì càng làm cho "bể hiểm" vô cùng khó lường.

"Mựa (chớ) trách thế gian lòng đạm bạc/ Thế gian đạm bạc đấy lòng thường" (Tức sự 3). Ông không trách thế gian "đạm bạc" (lạt lẽo) mà coi đấy là một quy luật thông thường, như tự nhắc mình sống ở đời là phải "gắng gỏi". Đường đời hiểm mà nơi hiểm nhất là chốn "cửa quyền": "Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc/ Cho hay đường lợi cực quanh co" (Ngôn chí 19). Nơi chốn ấy "nhiều hiểm hóc" vì gắn liền với "đường lợi", mà đường lợi thì bao giờ cũng "quanh co". Không còn là nhật xét suông mà là thực tế trải nghiệm.

Có lần ông cay đắng thốt lên: "Mùi thế đắng cay cùng mặn chát/ Ít nhiều đã vậy một hai phen" (Thuật hứng 1). Nhà thơ thường hay dùng ẩn dụ - một phương thức tu từ mang giá trị biểu cảm cao, với nhiều hình tượng mới lạ làm người đọc phải khám phá, suy nghĩ khi tìm ra ý nghĩa. Được thu nhận một triết lý mới lại càng khâm phục sự thâm thúy trí tuệ của bậc đại Nho: "Dương trường đường hiểm khúc co que" (Tự thán 3). "Dương trường" là ruột dê (có hệ tiêu hóa rất tốt, dê ăn được cả cỏ độc) ẩn dụ cho cái quanh co nhưng bí hiểm của thế gian. "Bành được thương thua, con tạo hóa/ Diều bay cá nhẩy, đạo tự nhiên" (Tự thán 33). "Bành" tức ông Bành Tổ tương truyền sống 800 năm, "thương" có nghĩa là chết non. Một sự chua chát: được thua cũng do tạo hóa cả, như diều bay, như cá nhảy cũng thuộc tự nhiên rồi!

"Ngọc lành nào có tơ vết/ Vàng thực âu chi lửa thiêu" (Tự thuật 5). Tục ngữ nói "Ngọc còn có vết" nhưng ở đây là ngọc không tỳ vết. Cũng là vàng thực, không cần thử thách gì. Một nét cười buồn: đừng nghi ngờ, dễ làm đau ngọc đau vàng. "Phượng những tiếc cao, diều hãy liệng/ Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi" (Tự thuật 9). Chim phượng bay cao, diều hâu bay thấp. Hoa quý thì hay héo. Cỏ rác hay tươi. Bật ra một quy luật trớ trêu đau đớn đáng mỉa mai của cuộc đời: cái hay cái tốt thì khó tìm và mong manh, cái xấu cái ác thì ngược lại…

"Hùm oai muông mạnh còn nằm cũi/ Khướu hót chim khôn phải ở lồng" (Tự giới). Một ẩn dụ dễ hiểu: mạnh như hùm kia, hót hay như khướu nọ, mà còn chịu kiếp trong lồng cũi. Thế nên người quân tử hãy thận trọng! "Bánh lành trong lá ghê người thấy/ Tiền tốt ngoài biên họa kẻ hay" (Tức sự 35). "Bánh lành" có thể ví như người tốt, người tài thường nằm ẩn trong lá, nhìn bề ngoài khó nhận ra, như tiền (kẽm) không chỉ nhìn cái biên rìa ngoài mà rõ được. "Bằng rồng nọ ai phen kịp/ Mất thế cho nên mặt dại ngơ" (Tức sự 33). Con rồng lúc thường thì oai phong lẫm liệt nhưng khi mất thế thì cũng "mặt dại ngơ". Ý thơ triết lý chua chát về cái được mất của thế thời.

Từng khẳng định mình có một cái khác so với người đời là tấm lòng ngay thẳng trong cõi trần thế đáng cười: "Cưu một lòng ngay khác chúng ngươi/ Ở chưng trần thế mấy phen cười", nhà thơ chua chát nhìn thấy cái đáng cười nơi trần thế qua lối thể hiện cũng chua chát. Ông hay so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng để làm bật ra cái trớ trêu không dễ nhìn thấy: "Dễ hay ruột bể sâu cạn/ Khôn biết lòng người vắn dài" (Ngôn chí 5). Có thể đo "ruột bể" nhưng không thể đo được lòng người. Đo được thì biết nó sâu cạn nguy hiểm thế nào, còn không thì không biết hiểm nguy ra sao.

Có trường hợp cái trừu tượng được đặt ở trước trong hai vế so sánh để nhấn mạnh: "Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn/ Lòng người quanh nữa nước non quanh" (Bảo kính cảnh giới 9). Ở câu này thì "miệng thế nhọn" và "lòng người" đều là những phạm trù trừu tượng được đặt ở vế trước để người đọc hình dung ra cái đáng sợ nhất vẫn là "miệng thế" và "lòng người". Lòng người đã hiểm độc lại luôn quanh co như dòng nước nên khó biết khó đoán bội phần. Khi những phạm trù cụ thể được đặt trước thường sẽ đóng vai trò điểm tựa để hiểu rõ hơn phạm trù trừu tượng ở vế sau: "Nuôi con mới biết lòng cha mẹ/ Thấy loạn thì hay đời Thuấn Nghiêu" (Bảo kính cảnh giới 8). Hôm nay nuôi con vất vả mới biết lòng cha mẹ trước đây sâu thẳm ra sao. Muốn hiểu thế nào là "đời Nghiêu Thuấn" hòa bình thì phải từng trải qua đời loạn lạc…

Tiếng cười mỉa mai, chua chát trong
Tranh minh họa Nguyễn Trãi về ẩn ở Côn Sơn.

Tiếng cười Nguyễn Trãi giàu hàm lượng tri thức cổ xưa nhờ hay xuất hiện ngụ ngôn: "Chúa giàn nẻo khỏi tan con nghé/ Hòn đất hầu làm mất cái chim" (Bảo kính cảnh giới 23). Ý thơ rút ra từ tập quán của loài trâu luôn sống theo đàn, "sẩy đàn (giàn) tan nghé". "Chúa giàn" là trâu đầu đàn mà đi khỏi thì cả đàn cũng tan, ý nói vai trò lớn lao của người chủ gia đình. Câu sau lấy ý từ ca dao "Đất Bụt mà ném chim trời/ Chim thì bay mất đất rơi xuống chùa" chỉ việc làm vô ích dễ gây họa. Nhờ mượn ngụ ngôn mà ý thơ sâu và hóm dễ đi vào lòng người. "Than lửa hoài chưng, thương vật nấu/ Củi thiêu tiếng khóc cảm thần linh" (Bảo kính cảnh giới 24). Câu đầu là điển tích trong thơ Tào Thực "Chử đậu nhiên đậu kỷ" (Cành đậu đun hạt đậu) nhắc chuyện anh em ruột thịt mà lại tàn hại nhau. Câu sau cũng là điển tích ngụ ngôn về sự đoàn kết anh em ruột thịt: có ba anh em Điền Chân đời Hán chia gia tài bàn nhau phá cây xanh tổ tiên để lại chia ba phần làm củi. Cây xanh tự nhiên khô đi mà chết. Ba anh em đoàn kết không chia gia tài nữa, cây tự nhiên sống xanh trở lại.

Câu "Chim có miệng kêu, âu lại ngậm/ Cáo khuyên lòng ở, mựa còn ngờ" (Tự thán 38) cũng có từ ngụ ngôn cổ: chim gặp nguy không dám kêu vì sợ lộ. Khi người gặp nguy thì đừng tin lời khuyên của cáo. "Thương cá thác vì câu uốn lưỡi/ Ngẫm ruồi nào chết bát bồ hòn" (Tức sự 35). Con cá chết vì mắc câu. Con ruồi không chết nếu không sa vào bẫy bồ hòn. Người cũng vậy, đừng chết vì lưỡi câu bổng lộc, vì bẫy ngọt phú quý... "Lọ vằn sinh lạ mãi phương Tây/ Phụng sự Như Lai trộm phép thầy/ Hơn chó được ngồi khi mặt bếp/ Tiếc hùm chẳng bảo chước leo cây" (Mèo). Truyện mèo mặt ngọc (ngọc diện miêu) kể có con chuột thành tinh cướp vợ một thầy đồ. Thầy đồ kiện, chuột hóa làm quan xử thầy đồ thua. Bao Công phải sang nước Phật ở phương Tây mượn mèo mặt ngọc vồ chết chuột yêu. Thì ra có yêu ma quỷ quái đến đâu vẫn sẽ bị công lý trừng trị. "Trộm phép thầy" tức khi thầy chùa vắng thì mèo trèo cả lên bàn thờ Phật mà ngủ. "Ngồi mặt bếp" là hình ảnh mèo được ngồi mặt bếp khi chủ làm cơm, hơn chó thường bị đuổi. "Tiếc hùm…" là chuyện mèo dạy hổ đủ chiêu nhưng không dạy cách leo cây. Con mèo được đặc tả qua các ngụ ngôn làm hình tượng sinh động, dí dỏm.

Là tiếng nói của một trí tuệ lớn thấu hiểu quy luật tự nhiên - xã hội, một tâm hồn lớn thấu cảm nỗi đau đời và yêu đời, "Quốc âm thi tập" là cả một thế giới tiếng cười với giọng chủ đạo mỉa mai chua chát. Tiếng cười ấy sẽ còn vọng mãi tới mai sau!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).