Tiếng chuông bên dòng sông hoa đào

Chúng tôi đi dọc sông Thương tới chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng, Bắc Giang) trong một sớm xuân về. Xưa, các cụ gọi sông Thương là dòng sông hoa đào bởi lẽ dọc hai bên bờ sông có nhiều vườn đào nở hoa khoe sắc. Nay vẫn vậy, tuy hoa đào không nhiều như trước kia nhưng các làng hoa luôn bám sông Thương để sinh sống.

Xuân mới, những làng hoa ở phường Dĩnh Kế hay xã Dĩnh Trí thuộc thành phố bắt đầu đón khách tới chọn gốc đào từ rất sớm.

Tiếng mõ ngàn năm mộng

Chùa Vĩnh Nghiêm nằm ngay trên ngã ba sông Thương và sông Lục Nam. Cả hai con sông này đều bắt nguồn từ dãy núi xứ Lạng và chảy qua thành phố Bắc Giang. Những nguồn nước sông mang đậm dòng phù sa thơm thảo cho hạt lúa cây hoa của Bắc Giang có hương vị đặc biệt. Xuân tới, những đường thôn quê nhộn nhịp bên sông Thương đúng với cảnh xưa: "Sông Thương bên lở bên bồi/ Thuyền hoa neo đậu hỏi trôi bến nào?/ Miệng em chúm chím nụ đào/ Làm anh chống ngược cây sào - đứng tim".

Đó là hình ảnh diễn tả độc đáo mà kẻ sĩ Kinh Bắc còn giữ được tới ngày nay với nét duyên dáng của những anh Hai, chị Hai quan họ. Tiếng chuông và tiếng mõ chùa Vĩnh Nghiêm rõ dần. Những phật tử trầm lắng trong cõi thiền tự Trúc Lâm với tâm cảm về nơi chốn Tổ của Phật giáo Việt Nam. Chùa ngự nơi ngã ba sông và nhìn về phía bến Lục Đầu Giang - Kiếp Bạc, nơi đây còn là cửa ngõ ra vào phía đông núi Yên Tử.

chùa vĩnh nghiêm ở huyện yên dũng, tỉnh bắc giang.jpg -0
Chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa đặc biệt khi được vua Trần Nhân Tông chọn để trụ trì trước khi lên núi Yên Tử (phía Tây) thực hiện con đường tu nghiệp (vào năm 1299). Đã hơn 700 năm qua, lời kinh của Ngài vẫn còn được khắc ghi trong mộc bản tại chùa với lời thiền Phật tại tâm rằng: "Cõi trần vui Đạo cứ tùy duyên/ Đói bụng thì ăn, mệt ngủ liền/ Báu vật trong nhà thôi tìm kiếm/ Đối cảnh vô tâm khỏi hỏi thiền". Đây chính là sự bao hàm cốt lõi của dòng thiền Trúc Lâm do Phật hoàng Trần Nhân Tông đề xướng. Ngài là Tổ đầu tiên sáng lập ra trường phái Trúc Lâm Yên Tử ngay tại đây.

Chùa Vĩnh Nghiêm hình thành từ đời Lý và đã được những Phật tổ thời nhà Trần chấn hưng và phát triển thành trung tâm Phật giáo nước nhà. Nơi đây đã có hàng vạn Phật tử về học và tu luyện nhập thế phái Trúc Lâm Yên Tử. Chính vì thế, chùa có tới 3.000 bản khắc gỗ kinh Phật (mộc bản gỗ thị) để in sách cho các Phật tử tới tu học, luyện tập. Chùa là thiền viện đầu tiên ở nước ta qua nhiều triều đại cho tới nay.

Đặc biệt, chùa còn có cây hoa "Nhập nhân" luôn nở vào ngày lễ hội tháng Hai hàng năm mà không nơi nào có được. Một giống hoa chỉ tỏa hương khi có hơi ấm của con người chạm vào. Cây hoa "Nhập nhân" chỉ sống được trên đất đồi chùa nơi ngã ba sông Thương và Lục Nam. Những bông hoa trắng e ấp bên vườn chùa đã hơn 700 năm qua. Mỗi khi Phật tử động tay tới cành hoặc cánh mỏng là hoa tỏa hương thơm. Tên hoa được gọi là "Nhập nhân" là vì thế. Hương thơm thoang thoảng tựa hoa đào rừng được trồng bên sông Thương, với gốc cây đào rừng lớn ghép cành hoa Nhật Tân.

"Nhập nhân" như một điểm nhấn huyền ảo trên đồi chùa Vĩnh Nghiêm quanh năm xanh tươi với chiều cao chừng 2 mét và tán rộng xum xuê. Nằm trong chốn thâm nghiêm hoa "Nhập nhân" hòa chung trong cảnh núi non bao quanh tạo nên cảnh quan kỳ thú bến sông quê. Những vần thơ xuân thiền cảm của Phật hoàng Trần Nhân Tông được khắc ghi trong mộc bản luôn sống động: "Chim nhẩn nha kêu liễu trổ đầy/ Thềm hoa chiếu rợp bóng mây bay/ Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế/ Cùng tựa lan can nhìn núi mây" . ("Cảnh xuân" - Nguyễn Huệ Chi dịch).

Hoài vọng dòng sông thi ca

Sông Thương chảy quanh núi non tiên cảnh và chùa Vĩnh Nghiêm cùng những áng thơ thiền của Trần Nhân Tông. Từ đó, sông Thương luôn là nguồn mạch thi ca bao đời nay. Ai tới đây cũng bồi hồi với hình ảnh ca dao: "Sông Thương nước chảy đôi dòng/ Bên trong bên đục em trông bên nào". Một thời, nhạc sĩ Phạm Duy trao gửi cảm xúc khi về miền Kinh Bắc qua trường ca "Con đường cái quan". Ông đã viết: "Sông Thương ơi! Nước chảy đôi dòng/ Anh về Hà Nội một lòng yêu em/ Sông Thương ơi! Nước đục người quen/ Anh về thành phố không quên có mình".

Giai điệu thương nhớ với sắc màu dân ca quan họ mang lại nét văn hóa đặc sắc trên đất Kinh Bắc ngàn năm. Nhưng trước đó, nhạc sĩ Đặng Thế Phong còn để lại dấu ấn Sông Thương lắng sâu hơn trong ca khúc "Con thuyền không bến" (sáng tác năm 1941). Ai cũng ngỡ như nhạc sĩ viết cho nỗi buồn của một cuộc tình. Bởi khi đó, nhạc sĩ đang ở Bắc Giang với bạn bè trên sông Thương thì được thư báo tin người yêu ở quê ốm nặng.

Nhưng ngược lại, giai điệu và lời ca lại ẩn giấu tâm trạng khắc khoải trong những ẩn ức thế sự: "Lướt theo chiều gió, một con thuyền/ Trôi trên sông Thương/ Nước chảy đôi dòng, biết đâu bờ bến/ Thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu…?".  Nỗi buồn nhân thế trào lên trong cảm xúc với đêm trăng trên sông Thương. Đó là âm điệu cô liêu và đầy hoang mang cho cuộc đời không biết sẽ đi về đâu trong khi đất nước bị xâm lược. Ông đã mượn hình ảnh sông Thương và con đò vô định để nói lên sự trăn trở trước thời tao loạn. 

Sông Thương nằm giữa hai con sông Cầu và sông Lục Nam tạo nên miền sông nước độc đáo cho thành phố Bắc Giang. Cầu sắt Phủ Lạng Thương xưa gắn bó với thời gian đổi thay cùng lịch sử cách mạng Bắc Giang. Bên dòng sông hiện nay vẫn còn Bến Chia ly ngày nào. Nơi đây được coi là chứng nhân cho những cuộc viễn du kinh lý của sĩ phu Bắc Hà. Những người lính bị điều động lên biên cương phía bắc đều dừng chân tại bến để cách biệt ngàn trùng. Phía trước là Chi Lăng, Ải Nam Quan và Cao Bằng non nước thẳm xa đầy bất trắc. Vua Lê Thánh Tông từng viết: "Đứng bên bờ dốc ngăm sóng dài/ Lặn với sao trời ráng đỏ soi/ Sông xa bát ngát buồm trăng xế/ Tiếng giặt đâu đây não ruột ai…". (Xương Giang cảm hoài).

một trang trong bộ “kinh hoa nghiêm” trong số các mộc bản chùa vĩnh nghiêm - ảnh thế dương.jpg -1
Một trang trong bộ "Kinh hoa nghiêm" trong số các mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm - Ảnh Thế Dương.

Không ít văn nghệ sĩ gắn bó với sông Thương qua những sáng tác chan chứa tình yêu quê hương. Ai cũng nhớ tới những câu thơ của Lưu Quang Vũ trong bài "Qua sông Thương''; hoặc như "Nhớ sông Thương" (Nhật Minh); hay khúc hát "Chiều sông Thương" của nhạc sĩ An Thuyên phổ thơ Hữu Thỉnh… Nhà thơ Hữu Thỉnh tràn đầy cảm xúc bên dòng sông: "Đi suốt cả ngày thu/ Vẫn chưa về tới ngõ/ Dùng dằng hoa quan họ/ Nở tím bên sông Thương". Hồn thơ được âm nhạc cất lên bay bổng trong âm hưởng dân gian ngọt ngào: "Nước vẫn chảy đôi dòng/ Những gì sông muốn nói/ Cánh buồm đang hát lên".

Trong khi đó, nhà thơ Lưu Quang Vũ mô tả dòng sông Thương một cách sống động. Ông còn là chứng nhân của những cuộc chiến đấu chống Mỹ ném bom phá hoại cầu sông Thương: "Nỗi đau cũ thật không cùng/ Sông cũng thành nước mắt/ Hôm nay anh lại qua sông/ Đò anh đi giữa những đóa sen hồng". Và nhà thơ thao thiết cùng nỗi niềm yêu thương: "Nghe sông gọi người đi đánh giặc/ Đất nước nặng tình phù sa bát ngát/ Tâm hồn ta tắm với bóng mây trong/ Yêu quá sông Thương nước chảy đôi dòng". (Lưu Quang Vũ).

Vang vọng Lục Đầu Giang

Nút thắt sông Thương hội tụ tại nơi mắt sóng của những con sông Kinh Bắc mang tên Lục Đầu Giang. Đây là được coi là dòng xoáy kinh hoàng đối với giặc Nguyên do chính vua Trần Nhân Tông chỉ huy trận đánh cùng Trần Hưng Đạo. Lục Đầu Giang vẫn còn đó một thuở huy hoàng của ông cha ta đánh tan giặc xâm lược. Nước sông mênh mang trôi âm thầm với núi non tiên cảnh thơ mộng đối diện với chùa Vĩnh Nghiêm. Người xưa đã có câu: "Ai qua Yên Tử Quỳnh Lâm/ Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành".

Chùa Vĩnh Nghiêm nằm trên đất địa linh nhân kiệt nơi hội tụ của 6 con sông (sông Thương, sông Cầu, Lục Nam, Kinh Thầy, sông Đuống và sông Thái Bình). Lục Đầu Giang chính là nơi tắm máu giặc xâm lăng trong lịch sử hào hùng của dân tộc ta. Trong đó, trận Vạn Kiếp (năm 1288) quân và dân nhà Trần đã chôn vùi xác giặc Nguyên trên sông Lục Đầu Giang. Bến sông xưa vẫn còn đó luôn ghi dấu cho cuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc ta. Hình ảnh kiêu hùng mãi mãi vẫn không phai: "Lục Đầu Giang dậy sóng/ Một trời hoa mưa bay/ Rừng núi chiều ngược gió/ Vạn Kiếp mây phủ dày/ Dòng sông hoa cổ tích/ Kể chuyện chiến công xưa/ Nhớ Phật hoàng Yên Tử/ Ngân vang tiếng chuông chùa".

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).