Thương nhớ những tết ngày xưa

Kể cũng là cái sự lạ, thời 4.0 rồi, lại cũng chả phải cái người hoài cổ đến đận mê lú, vậy mà chả hiểu vì can cớ gì, hễ cứ tới tiết Đông chí là lại nhớ nôn nao nhớ đứng nhớ ngồi những cái Tết “ngày xưa” nữa. Nhớ Tết “ngày xưa” đương nhiên là nhớ tới “Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh” rồi. Còn một nỗi nhớ nữa trong muôn vàn cái nhớ về Tết “ngày xưa”. Cái thú chơi Tết.

"Sang xuân đình đám vui như Tết
Hết đám làng bên lại đám làng

chơi đu..jpg -0
Lễ hội xuân của người Việt.

Xuân về mang theo tháng Giêng, cái tháng khởi đầu cho một năm mới. Cữ ấy trời đất ban tặng riêng cho người Hà Nội một thứ mưa kỳ ảo, độc đáo nhất thế gian này. Cái “giống mưa” liêu riêu, nhè nhẹ, xiên xiên. Mưa như sương. Mưa như khói, mờ mờ ảo. Thực đấy nhưng lại có cảm giác hư hư ảo ảo mới thần tình làm sao.

Thùng thùng thùng thùng!
Thình thình thình thình!

Tiếng trống báo hội đầy những hoan hỉ, đa cung bậc, muôn màu muôn sắc. Thiên hạ nô nức kéo nhau du xuân, chơi hội. Mà những cái Tết “ngày xưa” ấy nhờ có cái thú vui bình dân mà sang trọng khi được chơi Tết, xem hội cho nên chả bao giờ xảy ra những thứ tiêu cực mà bây giờ người ta gọi là tệ nạn xã hội. Vì lẽ, bị những hội hè; những trò diễn; những đêm hát dân gian bổ ích rủ rê quyến rũ thần hồn thần xác thành ra con người ta chả lấy đâu ra thời giờ “nhàn cư vi” để sa đà vào những thói tật mất nết.

Trong muôn vàn các thứ trò chơi dân gian phong phú, bổ ích và đầy những lý thú của Tết “ngày xưa” ấy, một trong những “cái món” khiến tôi đam mê nhất là chơi đu. Bị cái thú chơi đu “bỏ bùa mê thuốc lú”. Trò ấy nó lãng mạn lắm. Lãng mạn đến nỗi khiến con người ta phấn khích không thể chịu được, chả thể tả nổi.

“Nhún mình như thể nhún đu
Càng nhún càng dẻo, càng đu càng mềm…”

Đám đu Tết “ngày xưa” khiến tôi cứ như “ăn phải bả” là đu làng Neo. Làng Neo nằm bên kia con sống Đuống lai láng chất thi ca. Để xem đu làng Neo những cái Tết “ngày xưa” ấy tôi phải đi bộ gần chục cây số. Nào đã xong, lại còn phải đi đò qua sông nữa chứ. Nhưng mà vì "sướng" cái chất "hứng tình" nõn nường mây mẩy cảm xúc của "cái món" đu Xuân diệu kỳ thành ra tôi chả nản đường xa. Chả ngán đò ngang đò dọc sông nước cách trở là gì sất.

“Khen ai khéo dựng đu này
Để cho trai gái chơi ngày, chơi đêm”

Là một trong những thôn có truyền thống chơi đu những ngày đầu năm mới của vùng đất ngoại thành những Tết “ngày xưa”, bao giờ cũng thế, đã thành một thứ lệ không thành văn nhưng bất biến, cứ vào cữ áp Tết, thường thì sau tết Ông Công Ông Táo một, hai ngày gì đó, các bậc tiên chỉ của làng Neo và các vị đại diện cho chính quyền thôn lại ngồi với nhau trên tấm chiếu hoa cạp điều được trải ngay ngắn, khuôn thước ngay trước án tiền ngôi đình làng rêu phong cổ kính.

“Hội nghị Diên Hồng” năm cùng tháng tận ấy của làng chỉ nhằm bàn nhõn một việc thật đơn giản nhưng vô cùng thiêng liêng: tổ chức hội đu xuân năm tới thế nào cho tưng bừng hơn năm ngoái để kết nối tình bền chặt mối tình thân ái rường cột trong làng ngoài xã, thế thôi.

Rồi thì ngay sau đó, làng cắt cử một nhóm thanh niên gồm toàn những trai tráng trẻ khỏe nhất làng đại diện cho các gia tộc làm cái việc chọn tre dựng cây đu. Cây đu phải được dựng trước ngày 27. Muộn nhất là 28 tháng Chạp để nghênh đón Tết đến Xuân về. Và cũng là thông báo cho cộng đồng tứ phương tám hướng rằng thì, hội đu làng Neo sẽ lại mở ra như thường niên.

Muốn có được cây đu “đủ tuổi” dựng đu, cứ phải chọn được những cây tre hóa (tre cái) to đẹp nhất làng. Và thật già tuổi, không sâu bệnh. Gì chứ, tre hóa ngày ấy ở làng, nhà nào chả có một, hai bụi rậm rạp như rừng. Ấy thế nhưng có khi “đốt đuốc đi tìm giữa ban ngày” khắp làng may ra mới có thể chọn được vài cây tre ưng ý nhất chứ nào đâu có dễ. Có được những cây tre “hết ý” “chuẩn không cần chỉnh”, việc dựng đu lúc đó mới chính thức triển khai. Có năm làng Neo dựng cây đu ngay tại sân đình. Nhưng năm nọ họ lại dựng đu trước cửa chùa. Song năm kia, đu được dựng ngay đám diệc mạ cỡ vài sào Bắc Bộ.

Những cây tre được chôn thật sâu vào lòng đất vừa mềm vừa cứng. Đấy là trụ đu. Những cây tre được trồng theo thế gọng vó, mỗi bên hai cây và tất cả đầu của bốn (cũng có khi là hai, hoặc ba) cây tre cùng chụm vào nhau bằng sự chằng quấn chắc nình nịch của sợi dây chão chỉ dùng kéo thuyền. Trên đỉnh (thượng đu) cây đu là lá cờ sao vàng đỏ thắm. Và những lá cờ đuôi nheo đêm ngày tự tin ngạo nghễ bất chấp sương gió tung phần phật. Bay phấp phới trong cái thứ gió lộng Đông ngan ngát hương vị Xuân tinh khôi.

Đánh đu bao giờ cũng là một đấng giai nam trong bộ đồ áo the khăn đóng và một bên là ả nữ tú rực rỡ trong bộ đồ mớ bảy mớ ba, với mảnh yếm nâu sồng tươi non cùng cái bao dải thắt lưng màu thiên thanh. Để cho đu tung cao, anh giai phải cố dún cho thật mạnh. Chàng càng dún mạnh thì "đối tác" của chàng càng có cơ hội phô cặp má hây hây đỏ với đôi lúm đồng tiền duyên phát khiếp và ưỡn người, ưỡn cái phần ngực trinh nguyên đầy phồn thực của mình lên cho giời đất, cho thiên hạ cùng chiêm ngưỡng thưởng lãm. Cảm cái lãng mạn hứng tình của trò đu đến nỗi không thể dừng được mà cố thi sĩ Hồ Xuân Hương đã phải thốt lên, mà rằng:

"... Trai đu gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song..."

untitled-11.jpg -0
Chơi đu - trò chơi truyền thống trong dịp Tết cổ truyền của người dân vùng cao.

Anh trai càng nhún. Cô nàng càng uốn lưng, càng ưỡn ngực phô ra “đôi oản bụt” thây lẩy phồn thực của mình mà đu càng lên cao bay chao bên này, đánh về bên kia.  Trên trời cao, từng cặp én xuân khát tình mùa giao phối thi nhau chao lượn vấn vít hợp rồi lại tan.

Giữa từng không, lẫn trong cái làn mưa mờ mờ nhân ảnh nhuốm màu liêu trai cổ tích, trên cây đu, đôi trai tài gái sắc nhún xuống đẩy ra rồi thì mặt giáp mặt hợp hợp tan tan cùng hòa điệu âm dương có đấy mà hư đấy. Tất cả cùng hòa phối nhịp nhàng đầy âm điệu, tiết tấu lãng mạn, tinh khôi tạo nên một bầu trời thi ca mang hương sắc mùa xuân.

Mà chả hiểu những ngọn gió non tươi mỡ màng đầu Xuân vô tình hay hữu ý nữa mà làm cho mảnh áo the và lớp áo mớ bảy mớ ba cứ quấn quýt dan díu lại với nhau rối bời bời, chả sức mạnh nào có thể dứt ra được mới chết chứ. Giây phút nọ, trong cơn thăng hoa bất tận của sức trẻ mùa xuân, không thể chế ngự được xúc cảm non trẻ sung mãn của mình, chàng trai mạnh dạn buông lời ướm tán tỉnh gần xa khi đã “phải lòng” nàng trong giây phút thần tiên giữa trời đất bao la ngan ngát hương mùa xuân:

“Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”

Chỉ chờ có vậy, cô thôn nữ thuần khiết lúng liếng con mắt đa tình với cặp má hồn đượm sắc xuân đính sẵn đôi lúm đồng tiền xinh xinh và cặp môi đỏ như miếng quết trầu lượn cong vành trăng khuyết thả câu trầm câu bổng theo ngọn gió xuân mơn mởn, mà rằng:  

“Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”

Xem đu, có nhẽ “khổ thân” nhất vẫn là những chàng, những nàng đứng dưới ngửa mặt nhìn lên và bồn chồn, bứt rứt và cả nỗi nôn nao sốt ruột chờ đến lượt mình được đu. Chính bởi thế mà nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã phải thốt lên thay cho họ, rằng: “Người thời lên đánh kẻ ngồi trông” là vậy. Chàng trai sốt ruột còn vì nỗi, mong nhanh nhanh được dún mình cùng đu để có cơ hội “trồng cây si” buông câu tán “sát ván”:

“Xuân về nở thắm muôn đào,
Xuân về nở thắm lòng ta, lòng nàng”

Thoáng cái đỏ mặt. Thoáng chút e thẹn bẽn lẽn phút giây ban đầu khi được chàng “tấn công”, nhưng rồi chỉ trong chớp mắt, men tình yêu rạo rực trỗi dậy khiến cô thôn nữ trở nên bạo dạn mà nhún mình một cái rõ mạnh để bay sát về phía chàng trai. Trái tim đã mở cửa. Nàng thôn nữ thẽ thọt với câu hẹn hò khi đã cảm được cái tình của anh ta:

“Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ
Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy nhau”

Hội đu xuân (cùng những trò chơi và các hình thức diễn xướng dân gian ngày Xuân) không chỉ là cơ hội cho trai gái thả cửa tán tỉnh; vui thú tang bồng mà còn là địa chỉ đỏ để con người ta vô tư tự nguyện cố kết cộng đồng lại với nhau trên tinh thần nhân văn cao thượng: “Người với người sống để yêu nhau”. Từ đó tạo nên một thứ năng lượng nhân sinh phi thường, hào sảng mà tự tin bước vào một năm mới với một xung lực mới đầy sức Xuân.  

Những cái Tết “ngày xưa” là vậy. Còn Tết “thời nay” ở đâu đó, sao chả thấy bóng những trò chơi dân gian rẻ tiền, nhưng nhân văn, trữ tình lãng mạn và đầy tinh thần thượng võ như những Tết “ngày xưa”?! Sự trống vắng ấy cứ khiến cho người ta có cái cảm giác hụt hẫng sao ấy, mới chết người chứ!.

Cái nét văn hóa Tết thuần Việt ngày một hao gầy mất mát dần đi khiến cho những hệ lụy xấu có cơ nảy nòi. Tết bây giờ, có vẻ như người ta chả biết làm gì ngoài cái sự ăn nhậu. Rồi thì giết thời gian bằng việc “cắm mặt” vào màn hình tivi, điện thoại. Và mượn những chiếu bạc giải sầu mong sao cho Tết qua thật nhanh. Nghĩ mà thấy tiếc ngẩn tiếc ngơ, những cái Tết “ngày xưa”, đành rằng mỗi thời mỗi khác.

Lê Công Hội

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).