Thơ Việt cần một chiến lược mở rộng biên giới thi ca

Nhìn lại 50 năm thống nhất đất nước, không ai phủ nhận sự phong phú và đa dạng của đời sống thi ca. Ngoài nỗ lực đưa Ngày Thơ Việt Nam trở thành lễ hội văn hóa thường niên trên quy mô toàn quốc, việc cởi mở về thủ tục xuất bản cũng giúp nhu cầu in thơ của mỗi cá nhân được dễ dàng hơn, thuận lợi hơn.

Chỉ cần căn cứ hàng nghìn tập thơ ra đời mỗi năm và hàng trăm câu lạc bộ thơ sinh hoạt rộn ràng khắp cả nước, có thể khẳng định thơ Việt đã phát triển mạnh mẽ theo diện rộng. Thế nhưng, chiều sâu và chiều cao của thơ Việt, vẫn là một ẩn số cần được nhận diện và suy ngẫm một cách thấu đáo hơn.

Thơ Việt đã chứng minh được tính hữu ích với người Việt hôm nay. Thi ca để ngâm vịnh, thi ca để xướng họa, thi ca để giao lưu, thậm chí thi ca có tác dụng như một bài vận động thư giãn cho người bận rộn, như một loại biệt dược dưỡng sinh cho người cao niên. Đó là một tín hiệu đáng mừng cho một cộng đồng biết tôn trọng sở thích riêng tư của mỗi cá nhân.

Tuy nhiên, tính chuyên nghiệp của thơ Việt không thể trông cậy hoàn toàn vào dòng chảy thi ca tồn tại như một phương pháp thể dục tinh thần của trào lưu người người làm thơ, nhà nhà làm thơ. Dù có ý nghĩa nhất định, thì “xã hội hóa thi nhân” cũng không khác gì “quần chúng hóa tiến sĩ” và “bình dân hóa hoa hậu”. Một cộng đồng văn minh, không thể xem trình độ của tiến sĩ và đẳng cấp của hoa hậu chỉ na ná một trò tầm phào, một thứ mua vui. Vì vậy, vai trò của những người sáng tạo thơ Việt cũng cần đặt trong một hệ sinh thái bền vững hơn, khắt khe hơn.

50 năm non sông liền một dải, kinh tế đất nước được cải thiện từng ngày, giới cầm bút cũng không còn quan niệm cứng nhắc lấy tiêu chí phản ánh hiện thực làm kỹ thuật sáng tạo tối ưu và độc tôn. Nhiều lý thuyết nước ngoài đã được thu nạp, nhiều dòng chảy ngoại vi đã được dung hòa, nhưng thơ Việt vẫn loay hoay giữa những giải thưởng trao tặng định kỳ và những hiện tượng sớm nở tối tàn.

Chỉ cần quan sát trực diện thị trường thơ Việt, không khó để phát hiện, bên cạnh những thành tựu được kế thừa từ thế hệ nhà thơ tham gia hai cuộc kháng chiến vệ quốc rất đáng tự hào, chúng ta đang đối mặt một thực trạng, đó là sản phẩm nội địa thì đơn điệu và sản phẩm xuất khẩu thì thưa vắng.

nha tho tre giao luu.jpg -0
Các nhà thơ trẻ TP. Hồ Chí Minh giao lưu trong chương trình “Bài ca thống nhất”.

Nguyên nhân nào dẫn đến sự trì trệ của thơ Việt, khi chúng ta vẫn có nhiều tài năng thi ca? Câu trả lời nằm ở hai hạn chế cốt lõi: phê bình thơ và dịch thuật thơ.

Chế độ bao cấp đã được xóa bỏ, chỉ còn vài cán bộ nghiên cứu ở Viện Văn học và cán bộ sáng tác ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, hầu hết tác giả đều tự bươn chải để mưu sinh và viết lách. Đời sống dân sinh đã thay đổi, nhưng nền văn học không có một chiến lược phát triển tương ứng. Các cơ quan báo chí cũng bận bịu giải quyết bài toán tự chủ tài chính, không còn ưu tiên cho diễn đàn văn chương. Thơ xuất hiện trên báo chí phổ thông như một món trang sức khích lệ, còn những tạp chí văn nghệ cứ teo tóp dần. Không khí phê bình sôi nổi nhất sau tiếng kẻng Đổi Mới là cuộc tranh luận về “Bóng chữ” của Lê Đạt và “Người đi tìm mặt” của Hoàng Hưng vào đầu thập niên cuối cùng thế kỷ 20.

Các nhà phê bình thơ đã đi đâu mất dạng? Xin thưa, họ vẫn xuất hiện trong dáng vẻ lặng lẽ và nghiêm ngắn ở các tọa đàm, các hội thảo. Họ tương tác với thơ bằng những ngôn từ uyển chuyển và khéo léo, nhằm tránh mọi nguy cơ va chạm “thêm thù bớt bạn”. Họ cũng chộn rộn mưu sinh, nên họ không đầu tư đọc và viết kỹ lưỡng về một tập thơ nào, về một gương mặt thơ nào. Họ ngại nói thật, họ ngại mất lòng đồng nghiệp, khi thù lao một bài phê bình thơ quá ít ỏi so với vật giá leo thang. Không ai nỡ trách giận các nhà phê bình thơ, giữa cộng đồng sôi sục danh lợi, không thể bắt buộc cá nhân nào phải hy sinh các mối quan hệ mang lại vật chất, không thể bắt buộc cá nhân nào phải chịu đựng sự cô độc vì thị phi bủa vây.

Dù mỗi lần trao đổi chung quanh một vấn đề thi ca, các nhà phê bình thường xuyên thiếu một chút bình tĩnh, nhưng vẫn tạo ra không khí học thuật sôi nổi và gợi mở nhiều sắc thái thẩm mỹ tiếp nhận. Không có sự song hành của nhà phê bình đích thực, thơ Việt rơi vào vùng sáng tối miễn cưỡng vàng thau lẫn lộn. Thơ in rất nhiều mà người đọc rất ít. Nhà thơ in thơ, có thể chấp nhận tốn kém tiền bạc, nhưng làm sao chấp nhận tri âm chìm khuất?

Không gian dành cho thơ càng ngày càng chật hẹp. Báo chí chỉ đăng những bài thơ nhẹ nhàng du dương, còn những bài thơ nhói buốt về thế sự ngổn ngang và những bài thơ day dứt về nhân phẩm hao hụt, vẫn không có điều kiện được trình bày một cách trang trọng. Thơ Việt tạm thỏa mãn với những niềm riêng nho nhỏ thầm kín, những vần điệu chăm chút cẩn thận, những tâm tư gửi gắm rụt rè… Những nhà thơ sốt ruột với cách tân thi pháp, những nhà thơ quặn thắt với mệnh kiếp lênh đênh, cứ dần mờ mịt áo gấm đi đêm.

Nếu chịu khó đọc, gạn lọc bớt những giọng điệu thù tạc và những câu chữ đong đưa, các khuynh hướng thơ Việt 50 năm qua đã nảy nở nhiều hiện tượng thú vị như Bùi Chí Vinh, Inrarasa, Nguyễn Thị Ánh Huỳnh, Nguyễn Bảo Chân, Lãng Thanh, Trần Lê Khánh, Trần Đức Tín… Thật đáng tiếc, vẫn chưa có công trình tử tế nào soi rọi những hiện tượng trên, để công chúng mường tượng đầy đủ ưu điểm và khuyết điểm của từng tác giả, để công chúng thấy được rõ ràng sự vận động sáng tạo không ngừng của thơ Việt hiện đại.

Khi không có nhà phê bình góp phần định vị giá trị, thì việc chuyển ngữ thơ Việt để giới thiệu với bạn bè quốc tế cũng đầy gian nan. Ngoài tác phẩm của một số danh nhân được tổ chức dịch thuật công phu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu… thì hầu hết các nhà thơ hôm nay chủ yếu tận dụng kết nối cá nhân để đưa thơ mình ra thế giới. Sự cố gắng phi thường của một thiểu số nhà thơ rất đáng khâm phục, nhưng chất lượng bản gốc và bản dịch vẫn không lấy gì đảm bảo chất lượng thơ Việt thời hội nhập. Bởi lẽ, một tác giả chưa có tính đại diện cho phong vị một xứ sở thì khó lòng chinh phục thiên hạ xa xôi.

Sau một phần tư chặng đường của thế kỷ 21, thơ Việt đang có những tác giả trẻ có khả năng sáng tác bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh. Những công dân toàn cầu này không quá vất vả để tìm kiếm công chúng của họ trong thời đại công nghệ số, mà không còn e ngại rào cản ngôn ngữ. Tuy nhiên, diện mạo của một dân tộc có truyền thống thi ca không thể chờ đợi hành trình may rủi của vài trường hợp đơn lẻ. Muốn khẳng định tầm vóc thơ Việt trên bản đồ nhân loại, phải có một chiến lược quốc gia mở rộng biên giới thi ca.

Không thể nào có cấu trúc công nghiệp văn hóa, nếu không có sự quan tâm đúng mức với bộ môn nghệ thuật nền tảng là văn học. Nhiều quốc gia ở châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc đều đã xây dựng những quỹ hỗ trợ phát triển văn học, trong đó dành một phần kinh phí không nhỏ cho việc nghiên cứu, phê bình và dịch thuật thi ca. Đất nước Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới sẽ ra sao, nếu trong hành trang không có tác phẩm thi ca chất chứa vui buồn người Việt? Thế giới đã biết đến người Việt qua hạt gạo Việt, cà phê Việt thì chắc chắn thế giới càng mong thấu hiểu người Việt qua thi ca Việt.

Có lẽ không quá chủ quan để nhắc lại lần nữa, 50 năm qua thơ Việt liên tục có thêm nhiều tài năng thi ca. Chỉ riêng những nhà thơ đã ổn định sự nghiệp như Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Ý Nhi, Thi Hoàng, Thanh Thảo, Nguyễn Duy… đều xứng đáng là những đại sứ quảng bá tâm hồn Việt, nếu tác phẩm của họ được tuyển chọn và dịch thuật sang các ngôn ngữ khác.

Cho nên, để thơ Việt thoát khỏi thực trạng tù đọng và tích cực nhuận sắc cho bản lĩnh văn hóa Việt, cần tiến hành song song hai kế hoạch. Thứ nhất, tái thiết đội ngũ phê bình thơ. Thứ hai, bồi dưỡng lực lượng dịch thuật thơ. Tất nhiên, muốn huy động nhân lực để triển khai hai kế hoạch ấy, cần có chính sách đãi ngộ hợp lý, chứ không thể dựa vào ý chí và khẩu hiệu.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.