Thơ và thi nhân

Sáng tác thơ là một cuộc chơi trí tuệ. Diễn trò từ khoái cảm của cái tôi bản thể, từ chất liệu đa tầng của cuộc sống hay khuynh hướng tạo sinh, khiêu khích với những con chữ... đều tạo nên sự đa dạng, phong phú cho thi ca. Mỗi thi sĩ có một “cách thế” chơi.

1. Trong tập "Thơ đến từ đâu", trả lời phỏng vấn của Nguyễn Đức Tùng về công việc làm thơ, Thanh Thảo cho rằng: “Thơ là chơi hơn là làm việc, nhưng cái chơi này nhiều khi tóe máu, chứ chả chơi!”. So với các loại thể khác, xem chừng thơ có vẻ dễ dãi, nhẹ nhàng hơn. Thực chất, đó là một cuộc chơi đòi hỏi sự cân bằng tinh tế giữa trí tuệ và cảm xúc.

Nếu chạy theo lạ hóa thơ, nhiều khi vô tình “giết chết” cảm xúc. Nếu nghiêng hẳn về cảm xúc, thơ thiếu sức nặng của trí tuệ. Do vậy, đổi mới thơ là nhu cầu thiết thực hàng đầu. Vì ý thức làm mới thơ luôn là nguồn động lực tự thân, cổ vũ tinh thần sáng tạo cho thi sĩ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, thơ dung nạp vào nó mọi vấn đề của xã hội, từ cao thượng xuống thấp hèn, từ trung tâm ra ngoại vi. Tuy nhiên, dù là chủ đề nào, thơ phải hay, phải thực sự sống động, phải tuôn chảy từ chính trái tim của thi sĩ.

385458699_343032684842243_6786904272780907618_n.jpg -0
Nhà thơ Thanh Thảo.

Định nghĩa thế nào là một bài thơ hay là điều bất khả. Mỗi thời kì, mỗi giai đoạn, mỗi trào lưu, đều có những quan niệm khác nhau về thơ. Bản thân mỗi người cũng có những tiêu chí đánh giá khác nhau. Nhưng chúng ta không thể phủ nhận hai phần kiến tạo sinh thể bài thơ: thể xác (ngôn từ, hình thức nghệ thuật) và linh hồn (nội dung, cảm xúc). Hai phần này bao giờ cũng gắn bó, tương tác qua lại. Vậy, có những bài thơ hay song chỉ có thể cảm nhận là hay mà không thể lý giải được vì sao hay?

Để đánh giá thơ, đòi hỏi người đọc ít nhiều phải có: kiến thức, trí tuệ, năng lực thẩm bình, sự nhạy cảm, tinh tế, tính đồng sáng tạo,… Nhưng không phải được trang bị nhiều thứ là có thể cắt nghĩa thơ. Ví dụ, dạng thơ kỳ bí, lạ hóa thường được thi sĩ mã hoá theo quan niệm mỹ học mới (đôi khi người đọc chưa tiếp cận được hoặc còn khá lạ), thậm chí còn đẩy vào đó chiến lược “phì đại” ngôn ngữ, vì thế, đòi hỏi người đọc cần chú ý những điểm mà bài thơ ám ảnh, dừng lại ngẫm ngợi, rồi dùng tư duy trừu tượng cảm nhận cõi giới tinh thần độc đáo ấy. Theo tôi, đó cũng là một cách cảm nhận cái hay, cái khác của dạng thơ “kỳ bí”. Bởi lẽ cái đẹp, cái hay của nghệ thuật thường không đơn thuần ghi nhận ở sự minh bạch, hữu hình mà ghi nhận ở sự ấn tượng, mê hoặc, vẫy gọi.

Nói về thơ hay, Nguyễn Đức Tùng khẳng định với nhà thơ Thanh Thảo: “Thơ hay chưa chắc đã phải là vấn đề cuối cùng duy nhất đâu anh ạ. Mối quan hệ giữa cái mới và cái hay rất phức tạp. Có cái mới mà không hay, và chắc chắn sẽ không hay, có cái mới chưa hay, nhưng sẽ hay, có cái mới mà ngay lập tức đã hay”.

Thi sĩ là người luôn khao khát khám phá và mô tả cái tôi, biến nỗi niềm riêng tư của chính mình thành nguồn cảm hứng sáng tạo. Khi nỗi niềm ấy chuyển hóa vào thơ, nó không còn là khoái cảm riêng của thi sĩ nữa mà đã trở thành khoái cảm chung của toàn nhân loại. Nhưng để thơ lan tỏa sức hấp dụ, trở thành nguồn khoái cảm của nhân loại, thi sĩ phải là người biết tìm ra lối viết riêng. Nỗ lực kiếm tìm lối viết riêng chính là nỗ lực kiếm tìm cái mới.

Ở góc độ này, cái mới liên quan đến sự tồn tại và khả năng diễn giải, điều tiết của cái tôi. Ý thức khước từ, đả phá cái cũ đã có trong bản thân mỗi thi sĩ chứ không phải chắp nhặt từ bên ngoài. Cái mới là cái nảy sinh từ bên trong cái tôi bản thể của mỗi thi sĩ, cho nên, cách thức tạo cái mới cũng không ai giống ai. Như vậy, cái mới thể hiện ở sự viết và những ý tưởng mà thi sĩ chuyển tải trong đó. Cái mới đạt đến cái hay thì nó phải tạo được ấn tượng, hứng thú với độc giả. Cái hay lại đòi hỏi hay cả về nội dung lẫn hình thức.

Vậy, giữa cái mới và cái hay, cái nào là ngọn, cái nào là gốc? Cái hay có phải chắc chắn là cái mới không? Có cái hay không mới, thậm chí cũ thì sao? Không những thế, đánh giá cái hay, cái mới còn tuỳ thuộc vào thị hiếu của từng giai đoạn. Có thể giai đoạn này là hay là mới, nhưng ở giai đoạn sau, cái hay, cái mới ấy lại không còn hay, không còn mới nữa.

Quả đúng vậy, khó có thể rạch ròi tiêu chí giữa cái hay và cái mới. Hiện thực đi qua trái tim của thi sĩ, hiện thực ấy đã bị quy chiếu, ảnh hưởng bởi những rung chấn của anh ta. Hay nói cách khác, cảm xúc quyết định vận mệnh sản phẩm mà thi sĩ thiết kế. Cái hay, cái mới thực chất như hai mặt của một tờ giấy, đều được kiến tạo từ chính thế giới tâm hồn, sự thận trọng về mặt ngôn từ của thi sĩ, và những tác động từ phía độc giả.

5bf5ca42-1f05-4e9f-b41b-049ff1deee04.jpg -1
Tập thơ mới của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

2. Tại sao nhà thơ muốn “được buồn”? Tại sao thơ lại chọn nước mắt? Lẽ thường, con người luôn có nhu cầu an lành, êm ấm. Với thi sĩ thì ngược lại. Vui chung buồn riêng. Nỗi buồn vốn dĩ là một dạng thức vô hình, nên chạm vào nỗi buồn một lần hay chạm thêm nhiều lần nữa, chắc gì tường tận, khám phá hết được các chiều kích và cung bậc của nó.

Nói như vậy để thấy nỗi buồn luôn bí ẩn và có sức cuốn hút lạ lùng với người nghệ sĩ. Nỗi buồn mang đến những biểu cảm dạt dào cũng như ma lực hấp dẫn của ngôn ngữ. Khoảng cách vừa gần lại vừa xa của nỗi buồn có khả năng thiết kế vũ điệu tâm hồn thi sĩ. Chỉ ở những điểm đau, nút thắt tê tái, buốt xót thì thơ mới có độ lan tỏa, tác động mạnh đến người đọc. Trong tận cùng cô đơn, tuyệt vọng, nhà thơ mới thực sự vật lộn kịch liệt với cái tôi để truy tìm bản thể. Và cũng chỉ có con đường này, nhà thơ mới đối diện trọn vẹn nhất cái tôi của chính mình, không bị trộn lẫn giữa nghìn trùng cá thể, mới phát tiết cái riêng, cái lạ, cái độc.

Như thế, ý thức bản thể lớn chừng nào thì sáng tạo thăng hoa chừng đó. Nỗi buồn, nỗi cô đơn, do vậy, là đặc ân, món quà vô giá mà tạo hóa trao tặng cho người nghệ sĩ. Cô đơn để viết. Trên vùng-đất-tâm-hồn không có một vết dấu của ai khác ngoài sự suy ngẫm và tưởng tượng của bản thân người nghệ sĩ. Vậy, viết để “đùa nghịch với bóng tối và sự vắng vẻ đầy thanh khiết” chính là một khoái thú hết sức đặc biệt của người nghệ sĩ trong hành trình tìm cái mới và cái hay.

fc218290-b8b0-44bc-b907-51cfb8d79359.jpg -2
Bìa cuốn sách 65 bài thơ hay.

Cảm xúc, liên tưởng khác nhau hình thành những bài thơ khác nhau. Nếu phơi cảm xúc một cách lộn xộn, ắt gây tổn hại đến giá trị, hiệu ứng thẩm mỹ của thơ. Cảm xúc cần sắp xếp, tạo khối vững chãi. Khối vững chãi ấy là thi tứ. Do đó, một trong những yếu tố làm nên sự khác nhau, đánh giá mức độ cái hay, cái mới của bài thơ còn tùy thuộc vào cách lập tứ. Thi tứ quyết định chất lượng bài thơ và tài năng của người nghệ sĩ. Sự kết hợp “đắt” giữa ý tưởng, cảm xúc, hình ảnh, ngôn từ, nhạc điệu,... đảm bảo những bài thơ hay, độc đáo, ấn tượng.

Người đọc không nên lấy một khuynh hướng sáng tác nào làm tiền đề đánh giá thơ. Mỗi thi sĩ đều có cách diễn đạt, tư duy khác nhau, miễn thơ làm ra hay, thể hiện được giá trị sống và giá trị người. Thơ hay là thơ xếp chồng cảm xúc của thi sĩ lên cảm xúc của mọi người, rồi tiếp tục sóng đôi sự rung chấn ấy lên bạn đọc. Nhờ thế, nhu cầu và khát vọng nhân sinh trong thơ mới được trừu xuất một cách thẩm mỹ. Lúc này, sự không tách rời giữa tính nhân sinh và tính thẩm mỹ là thước đo sáng tạo, tiêu chí minh định cái hay của thơ.

Hệ lụy đời sống cho thi sĩ cách sống thật. Sống thật mới viết thật. Những cảm xúc, cảm hứng xuất phát từ trái tim nóng hổi, tha thiết với người, rung động với đời mới đạt đến hiệu lực của nghệ thuật quyến rũ, nghệ thuật cấp cao. Chỉ trong thế giới thi ca, thi sĩ mới biết ràng buộc mình trong cuộc đày ải vô cùng của trí tuệ, biết thiết tạo vân gỗ riêng, kích thích sự đọc, năng lực tưởng tượng của độc giả. Dù rằng thi ca không phải là phương thuốc diệu kì để giải quyết hay chấm dứt những xô bồ, hỗn độn của thế giới, nhưng thi ca sẽ mải miết cuốn thi sĩ vào hành trình kiếm tìm giá trị thi ca và giá trị cuộc đời.

Hoàng Thuỵ Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).