Thơ và một tên đất – Thơ với một con số

Chúc Ngưỡng Tu nghỉ hưu chưa lâu. Sau khi thôi dạy học, ông thường tâm sự: Từ bây giờ trở đi, ông chỉ có hai việc, một là chơi với cháu, hai là đọc và dịch tác phẩm văn học Việt Nam.

1. Giáo sư Chúc Ngưỡng Tu, người Trung Quốc, năm nay chắc đã trên 70 tuổi. Ông dạy tiếng Việt lâu năm ở các trường đại học Trung Quốc và là người đặc biệt có cảm tình với đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam. Chúc Ngưỡng Tu đã dịch nhiều tác phẩm văn học nước ta, cả văn xuôi, cả thơ; trong đó có bộ tiểu thuyết ba tập “Ông cố vấn” của nhà văn Hữu Mai (1926-2007). Theo tôi biết, mấy năm nay, Chúc Ngưỡng Tu đang dành công sức cho việc dịch thơ của nhà thơ Hữu Thỉnh sang tiếng Trung Quốc.

Chúc Ngưỡng Tu nghỉ hưu chưa lâu. Sau khi thôi dạy học, ông thường tâm sự: Từ bây giờ trở đi, ông chỉ có hai việc, một là chơi với cháu, hai là đọc và dịch tác phẩm văn học Việt Nam.

Tôi đã gặp và có dịp trò chuyện sơ sơ với Giáo sư Chúc Ngưỡng Tu ở hai cuộc Liên hoan thơ châu Á – Thái Bình Dương do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ở Hạ Long và Hà Nội. Tôi nhớ, trong buổi kết thúc Liên hoan thơ châu Á – Thái Bình Dương ở Hạ Long, Giáo sư Chúc Ngưỡng Tu có đọc tham luận, trong đó ông có nói ý này: "Tôi hết sức vui mừng được mời sang Việt Nam dự Liên hoan thơ. Các bạn Việt Nam tổ chức được một Liên hoan thơ lớn như thế này là một điều tuyệt vời. Đất nước các bạn là một đất nước của thơ. Chả thế mà Việt Nam có cả một tỉnh mang tên Cần Thơ?”.

Giáo sư Chúc Ngưỡng Tu nói với một giọng nghiêm túc, hoàn toàn không có vẻ gì là hài hước, nên ai cũng như tôi, hiểu chữ “Cần” mà ông dùng nghĩa là “cần có”, “phải có”; tức là tên tỉnh Cần Thơ của Việt Nam thể hiện nhu cầu của người dân ở đấy là “cần có thơ”. Và như vậy, vấn đề chúng ta sẽ đặt ra là: gốc gác của cái tên tỉnh Cần Thơ là gì, có liên quan đến cách hiểu của Giáo sư Chúc Ngưỡng Tu không?

Tôi viết thư hỏi nhà nghiên cứu Nguyễn Sĩ Cẩm, người đã sống ở Cần Thơ nhiều năm cho đến nay, được anh cho biết: Theo các nhà nghiên cứu trước đây, thì cái tên Cần Thơ không được sử sách ghi chép rõ ràng như nhiều tên tỉnh khác của Nam Bộ. Chỉ có một vài nhà nghiên cứu ghi lại cách hiểu của dân chúng theo dạng truyền miệng và được giải thích theo hai cách:

Cách 1: Tương truyền, khi trên đường vô Nam để tránh Tây Sơn, mưu đồ phục quốc, một lần Nguyễn Ánh ngự ở chiếc thuyền trên sông Hậu thuộc địa phận huyện Phong Phú, trong đêm trường thanh vắng, bỗng nghe có tiếng người ngâm thơ, đàn hát. Ông chạnh lòng nhớ những đoạn đường lưu lạc của mình, muốn ghi lại dấu ấn nơi đây, liền đặt tên cho dòng sông là “Cầm Thi giang” (con sông của thơ, của đàn). Cái tên “Cầm Thi” từ đấy được lưu truyền trong dân gian, cho đến lúc người ta đọc chệch đi là “Cần Thơ” và được giữ đến bây giờ.

Cách 2. Người dân xưa trên dòng sông Hậu kể lại rằng, ở vùng đất này ngày trước có trồng rất nhiều rau cần và rau thơm. Trên đường đem rau đi bán, người ta rao: “Ai mua rau cần thơm?”. Dần dần, hai tiếng “cần thơm” được đọc chệch đi là “Cần Thơ”. Người ta lấy hai tiếng ấy đặt tên cho xứ này.

Không biết hai thuyết ấy, thuyết nào đúng, thuyết nào sai? Hay cả hai cùng sai?

Tác giả (người bên phải) và Giáo sư Chúc Ngưỡng Tu trong Liên hoan thơ châu Á - Thái Bình Dương ở Hạ Long.
Tác giả (người bên phải) và Giáo sư Chúc Ngưỡng Tu trong Liên hoan thơ châu Á - Thái Bình Dương ở Hạ Long.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Sĩ Cẩm thì ngoài hai thuyết trên, chưa thấy có thuyết nào khác giải thích gốc gác của tên tỉnh Cần Thơ.

Như vậy, cách hiểu của Giáo sư Chúc Ngưỡng Tu là không ổn. Mấy năm nay, tôi chưa có dịp gặp lại ông, chưa trao đổi được với ông về chuyện này.

2. Trong dãy số thập phân, có mấy chữ số được dùng nhiều và hiểu với những cách hiểu khá đặc biệt, có khi kỳ lạ nữa.

Hãy xem, chẳng hạn số 4. Con số này thường được người đời coi là tượng trưng cho sự hoàn hảo, linh thiêng. Bốn đường bằng nhau tạo nên một hình vuông gây ấn tượng ổn định, tĩnh tại, vững chắc. Có bốn trạng thái trong đời một người: sinh, lão, bệnh, tử. Có bốn mùa trong một năm: xuân, hạ, thu, đông. Có bốn mặt của thần Tumburu ở đền Ăngco (Campuchia). Thành ngữ Việt Nam thì có “Bốn phương, tám hướng”.v.v...

Lại xem, chẳng hạn số 7. Có bảy ngày trong một tuần. Tế lễ dân gian ở Trung Quốc diễn ra vào ngày thứ bảy. Đạo Hồi nói đến số 7 với ý tốt lành và có bảy ý nghĩa bí hiểm của kinh Coran liên quan đến bảy trung tâm tế vi của con người. Trong Kinh Thánh, số 7 gắn với những chuyện linh thiêng, huyền bí. Người Do Thái cho số 7 là biểu tượng của tất cả nhân tính. Người châu Phi coi số 7 là biểu tượng của sự thống nhất. Thành ngữ Việt Nam thì có “ba chìm, bảy nổi” v.v....

Nhưng hơn tất cả những chữ số khác, số 9 mới là số được cổ kim, đông tây dùng nhiều nhất và sẽ có trong những câu thơ lý thú mà tôi sẽ dẫn dưới đây. Số 9 có một điều lạ: đem nó nhân với bất kỳ số nào thì các chữ số của kết quả cộng lại đều thành 9. Thí dụ: 9x2 = 18 (1+8=9); 9x30 = 270 (2+7+0 = 9); 9x35 = 315 (3+1+5 = 9); 9x137= 1233 (1+2+3+3 = 9) v.v...

Ở phương Đông, thì Trung Quốc, đời vua Hạ Vũ (2205-2197 trước công nguyên) nước này chia làm chín châu: Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Lương và Ung; ở sân Thái miếu có đặt chín cái đỉnh tượng trưng cho chín châu. Từ đó về sau, chín châu được dùng để chỉ một nước, không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở mấy nước lân cận (bài thơ “Ai tư vãn” của công chúa Ngọc Hân khóc vua Quang Trung có các câu: "Mà nay lượng cả ơn sâu/ Móc mưa rưới khắp chín châu đượm nhuần"). Người Trung Quốc xưa coi bầu trời gồm chín phương. Nhiều sách của Trung Quốc nhắc đến ý nghĩa đặc biệt của số 9 như tiểu thuyết “Tây du ký” cho thấy muốn thành tiên, con người phải qua chín lần biến hóa. Sách “Hoa thần dược” cho thấy muốn có thuốc tiên phải qua chín lần luyện. Toán học thì có “cửu chương” (chín chương). Triết học cổ đại thì có “cửu lưu” (chín phái). Nghi lễ xã hội thì có “cửu lễ” (chín lễ). Công lao cha mẹ đúc thành chín chữ... Lời thách cưới từ Mỵ Nương trong truyện thần thoại “Sơn tinh, Thủy tinh” của Việt Nam là: Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, tôm chín càng, cá chín đuôi. Tục ngữ Việt Nam có câu “Một sự nhịn, chín sự lành”, “Một nghề chín hơn chín nghề” v.v...

Ở phương Tây, số 9 đại diện cho sự đầy đủ, trọn vẹn. Trong thần thoại Hy Lạp, thần trồng trọt Đêmêtê đã đi khắp hành tinh trong chín ngày để tìm con gái; nữ thần Lêtô đau đẻ trong chín ngày chín đêm mới sinh con, v.v...

Vì số 9 đứng một mình là số lớn nhất trong hệ thập phân (không như số 10 phải là kết hợp của số 1 và số 0) nên số 9 được người đời ở cả phương Đông và phương Tây cho là chữ số thể hiện sự sung mãn nhất, trọn vẹn nhất, lớn nhất.

Trong thơ Việt Nam, một nhà thơ có ý thức dùng số từ ở nhiều câu thơ bài thơ, đặc biệt là dùng số 9 ở một trường hợp đặc biệt, là nhà thơ Nguyễn Bính (1918-1966). Nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình viết về thơ Nguyễn Bính từ trước đến nay, chưa thấy ai nói đến số 9 này.

Tôi đã có lần viết:

“Giấc mơ anh lái đò là bài thơ Nguyễn Bính viết năm 1938. Anh lái đò chiều chiều chở cô gái qua sông tước đay. Anh phải lòng cô, mơ ước lấy được cô. Nhưng nhà anh thì nghèo, mà nghe đâu đám cưới nhà gái mong muốn lại quá sang trọng:

Đồn rằng đám cưới cô to
Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
Nhà gái ăn chín nghìn cau
Tiền cheo tiền cưới chừng đâu chín nghìn


Trong khi đó:

Lang thang anh dạm bán thuyền
Có người giả chín quan tiền lại thôi!

Với anh lái đò trong bài thơ, con số chín vừa quá lớn lại vừa quá nhỏ. Ở đây, số chín quý như vàng”!

Đoạn văn trên viết vào tháng 9-1985, sau khi đăng báo, có đưa vào quyển “Phía sau dòng chữ” (phê bình và tiểu luận), Nhà xuất bản Thanh niên, 1997. Nếu có gì cần thêm, thì có thể nói: chín chiếc đò, chín nghìn cau, chín nghìn tiền cheo, tiền cưới đều rất lớn, trong khi “chín quan tiền” bán đò, thì số 9 có lớn đấy nhưng chỉ lớn với chín quan tiền thôi (mà một quan chỉ là sáu trăm đồng) còn... xa mới đủ tiền thách cưới!

Sau khi đoạn văn nói trên của tôi đăng báo, một hôm có khách đến chơi ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội, nơi tôi làm việc. Ông không phải nhà văn, không phải nhà báo, nhưng thỉnh thoảng có viết lách chút ít. Thấy tờ báo, ông đọc và thích thú thốt lên: Một phát hiện rất hay! Mình đang định viết một bài về con số 9. Cậu cho mình chép đoạn thơ này nhé! Khi viết, mình sẽ nói đây là phát hiện của cậu.

Tất nhiên là tôi cho ông chép. Tôi còn đọc cả bài “Giấc mơ anh lái đò” cho ông nghe nữa. Một tháng sau, tình cờ đọc thấy bài ông trên một tờ báo. Đoạn viết về số 9 trong thơ Nguyễn Bính, không phải như ông đã “hứa”, mà cứ như chính ông là người phát hiện vậy.

Chuyện... “nhỏ như con thỏ” ấy mà. Nhân tiện thì kể lại thôi! (nhưng mà... nghĩ kỹ, chưa chắc chuyện như thế đã là chuyện nhỏ)!

Hồng Diệu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).