Thơ mang vẻ đẹp những giấc mơ

Tác phẩm văn học được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam thường nhận được sự quan tâm của công chúng, của văn giới. Dù dư luận trái chiều, dù hởi lòng đồng thuận hay ngỡ ngàng, dăm ba tên sách, tên tác phẩm vẫn cứ ghim lại trong tâm trí bạn đọc. Đó là một phần của đời sống văn chương nước nhà. 

Tôi may mắn được đọc hầu như tất cả các tập thơ đã xuất bản của nhà thơ Từ Quốc Hoài. Gần đây nhất là tập “Lời thỉnh cầu hạnh phúc” (NXB Hội Nhà văn, 2015). Trước đó là tập “Những chiếc lá thiêng liêng” (NXB Hội Nhà văn, 2013) và trước đó nữa là tập “Sóng và khoảng lặng” (đã đoạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010).

Cảm giác đầu tiên của tôi khi đọc 2 tập thơ “Lời thỉnh cầu hạnh phúc” và “Những chiếc lá thiêng liêng” là choáng ngợp trước ngổn ngang thế sự, tự sự tác giả giăng bày, sắp đặt có chủ đích. Đó là cuộc đối diện với những thật - giả khó phân về gương mặt cuộc đời, về các giá trị khi “sống trong thế giới này” với những “hiểm họa”, những “báo động đỏ”, “trải nghiệm với mặt nạ”… Có khi là “sự nhẫn nại” tìm kiếm “chân lý” trong “ngày bình thường”, có lúc ẩn vào “cuộc phiêu lưu giả tưởng”.

Nhà thơ Từ Quốc Hoài
Nhà thơ Từ Quốc Hoài

Những chiếc lá thiêng liêng vào thăm thẳm lòng người để tìm kiếm “mặt người”. Tất cả là những chật vật nghiệm sinh, những “phản tư” về ý nghĩa sự tồn tại, nên trong mạch suy tưởng miên man của Từ Quốc Hoài có vẻ đẹp của sự minh triết.

Chúng ta
Bỗng trở thành loài gặm nhấm
Tiêu xài những giấc mơ
Nhẫn nại gặm nhấm
Cho tới khi chỉ còn lại nỗi cay đắng

(Sự nhẫn nại)

Trong sương sớm
Mặt trời khoác lễ phục ngày mới
Anh ngồi
Bất lực nhìn mặt trời mỗi lúc một lên cao
Ngày mới
Xem ra chẳng giúp gì cho anh cả
Ngoài việc nhắc anh
Nhớ tới
Những món nợ cũ
Những món nợ tồn đọng
Đâu như từ mấy kiếp luân hồi

(Ngày mới)

Dòng sông vẫn không ngừng chảy
Cuốn theo bầu trời đầy cỏ hoa
Có khi dòng nước đã lặn vào cát
Sông vẫn không ngừng trôi
Ngày tháng đã đổi thay gương mặt
Trong lao xao cây lá hai bờ
Lạ thay… cuộc hành trình của con tim

Vẫn ẩn hiện đâu đó

(Lạ thay con tim)…

“Những chiếc lá thiêng liêng” là tập thơ của sự bất an. Nhưng thật lạ lùng, sự bất an trước những bề bộn khó phân định về các giá trị cả chuỗi suy nghiệm và phản tư không làm người đọc tuyệt vọng. Vẫn lung linh phía sau câu chữ mệt nhoài của Từ Quốc Hoài lặng dâng một đốm lửa của niềm tin, của hy vọng:

Mùa thu ấy đã đi qua thật rồi!
Nhưng những chiếc lá còn luân hồi
Để đánh thức trí nhớ
Chẳng ai có lỗi
Khi mọi người cùng đánh mất trí nhớ
Một chiếc lá làm con thuyền
Nhẹ bơi qua mùa thu
Một con thuyền chở nắng
Lung linh sáng

(Những chiếc lá thiêng liêng)

Cái đốm lửa này hiện diện khi được diễn trình khá ngộ nghĩnh, tươi mới. Một con nhím đồ chơi làm từ gốc tre tua tủa xù gai trên góc tủ:

Một nghìn năm nữa
Có thể chú vẫn còn sống khỏe
Nghìn năm nữa
Chắc gì trần gian đã sóng lặng biển yên
Chú nhím nhỏ sẽ vẫn nghênh nghênh
Tua tủa xù lông
Cảnh báo
Không dễ chơi tui đâu nghe!

(Chú nhím nhỏ).

Hoặc với “Báo động đỏ”, bài  thơ 2 câu khá nén, vẫn dễ dàng được tiếp nhận bởi lô gíc nội tại nhẹ nhàng: “Nhà trời thủng lỗ chỗ/ Anh còn ngồi hóng mát đến bao giờ?”.

Ngoài cách tiếp cận vấn đề, có thể lý giải sức hút của tập thơ chính là giọng điệu. Những suy tư trĩu nặng thế sự, nhân sinh đã được diễn trình bằng ngôn ngữ giản dị, nhẹ nhàng, không lên giọng tuyên ngôn, không lập thuyết rao giảng. Và trên tất cả, là vị trí chủ thể của nhà thơ đã ẩn đi hoàn toàn. Nhà thơ đã đứng lánh ra ngoài câu thơ như một sự khách quan, như kỹ thuật. Kỹ thuật đó đã thực sự hiệu quả: sức thuyết phục của thơ lớn hơn nhiều. Đó cũng là nét hiện đại của “Những chiếc lá thiêng liêng”.

Bìa 2 tập thơ mới của nhà thơ Từ Quốc Hoài.
Bìa 2 tập thơ mới của nhà thơ Từ Quốc Hoài.

Khác với những thi sĩ khác, tình yêu trong thơ Từ Quốc Hoài có cái riêng. Dĩ nhiên không thiếu đắm đuối. Đọc “Lời thỉnh cầu hạnh phúc”, ta nhận ra cái đắm đuối có phần ngây dại trong tình yêu của ông thiên về lý trí hơn trái tim. Khoan nghi ngờ điều đó, vì thực chất thơ tình của ông là một kiểu phác thảo về tình yêu, một cách nghĩ về tình yêu, một cách tiếp cận tình yêu của riêng ông. Riêng và khác là ở đó, và cũng đáng đọc ở đó:

Em khuất lấp đằng sau
Những bận bịu của đời người
Cái thời hơi thở cũng chạm tới tiền bạc
May sao những đồng tiền trở nên trong sạch
Qua tay em.

(Đóa sen)

Không có gió
Ở nơi bắt đầu ngọn gió
Không đất đai
Tình yêu em cuộn giấc ngủ trong hạt mầm

(Dưới bầu trời không đáy)

… ngày đầu tiên kích thước cuộc đời
có thể là vóc dáng một người đàn bà

(Tình yêu)

Thơ tình của Từ Quốc Hoài, như đã nói trên, dù tỉnh người đọc vẫn thấy thú vị. Và vẫn cứ muốn đọc. Ông đã kích được trí tò mò của chúng ta, chuyện muôn năm cũ và bí ẩn:

Nếu ngày ấy
Em tặng anh thứ khác
Có phải đỡ nguy hiểm hơn không
Nhưng nếu ngày ấy... anh từ chối
Thiên đàng đã thành ra hoang vắng
Chỉ còn trên đầu mây trắng ngổn ngang.

(Nụ hôn)

Những chiếc chuông rực rỡ
Làm cơn mưa ngược về trời
Anh bắt gặp nụ cười
Trong suốt suối đáy mắt
Bài hát sóng sánh hương
Giữa nụ và chồi...

(Thánh lễ)

Có lẽ nỗi ám ảnh về thời gian, về những ký ức đã qua là hứng khởi căn bản của thơ tình nhiều người. Nhưng nó khá đậm đặc với Từ Quốc Hoài. Cái đã qua, khoảnh khắc vụt mất có khi thể hiện như một nuối tiếc, có khi như bấu víu âm vọng những giấc mơ. Và chỉ có thể giãi bày cùng ngày, đêm, giờ, tháng năm, vào trăm năm, ngàn năm, vào tít xa mặt trời, mặt trăng, gì gì nữa. Nó là cái tuyệt vọng của nhân sinh về bí ẩn tình. Từ Quốc Hoài ngay cả những ký ức thực cũng vời vợi xa xăm:

Thành phố thức dậy, chạm tay vào những sợi dây phơi lam lũ mồ hôi, chạm tay trang nhật báo chấn động những dòng tin chiến sự. Và bom đã phá đổ bức tường in bóng tôi đợi em. Lửa thiêu những chiếc giường còn ấm hơi hạnh phúc. Thép chảy đỏ lời thề. Nụ cười trẻ con rắn thành thép. Và trái tim tôi tan vỡ. Không phải vì sức ép của lửa bom. Chúng tôi chia tay đau đớn như bao mối tình đầu tan vỡ.

(Hoa sữa)

Ngày tháng trôi
Hoa héo tàn...
Em làm ngọn gió xáo lên bao kỷ niệm
Giữa hai ta không cần phải thú nhận

(Giữa hai ta)

Anh bừng tỉnh
Đêm đã mang em đi...
Để lại những cánh cửa mở toang
Trống rỗng kho báu

(Của đêm)

Có khi nhà thơ nương vào huyền thoại để phục dựng hy vọng hồi sinh, một hy vọng không lấy gì có cơ sở bởi đó là những “Chiêm nương” xa tít tắp, những nàng apsara hóa đá:

Những nẻo đường quê anh lừng lững các vị thần
Những Visnu, Shiva... sinh sôi và hủy diệt
Xin được cầm tay hậu duệ của các Ngài
Những bàn tay búp măng
Mềm mại và ấm nóng...
Để mùa xuân có cơ may
Nảy lộc đâm chồi

(Lời thỉnh cầu hạnh phúc)

Thời gian ngỡ đã mất
Lại thắm dưới bầu trời

(Ngọn lửa thắp bên trời)

Vẫn là Từ Quốc Hoài nhiều năm gần đây với sự kiệm lời và kín đáo những ý tưởng. Yêu và nghĩ về tình yêu đâu phải đặc quyền của riêng ai. Ông đã có cách thể hiện của riêng mình.

25 năm cho 5 tập thơ đến với công chúng, tập sau đằm sâu hơn, già dặn hơn về nghề, về những tìm tòi không ngưng nghỉ. Từ Quốc Hoài đã chứng tỏ ông là cây bút thơ còn rất trường lực.

Lê Hoài Lương

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).