Thơ “Không đề” - Nên chăng?

Lâu nay, ta đã bắt gặp đây đó những bài thơ mang tên “Không đề” - đăng trên báo chí và in trong các tập sách. Hiểu nôm na là nếu những bài thơ khác có tên (“tít”, nhan đề) thì những bài này không có tên. Vì sao?

Vì tác giả cố ý hay vì nghĩ mãi không ra cái tên nào khả dĩ, vừa ý, nên mới đành để là … không đề. Có lẽ khả năng thứ hai nhiều hơn. Những bài tầm thường, dở, vô thưởng vô phạt thì chẳng nói làm chi, bởi người đọc không để ý. Riêng với những bài được, thậm chí hay thì rõ là đáng tiếc. Chẳng khác gì con người vậy. Hãy hình dung một ai đó gây được ấn tượng thú vị cho người tiếp xúc, ai cũng có thiện cảm, thích quan hệ, lại không có tên gọi khiến người ta chỉ nói: Cái cô ấy, cái anh nọ, ông cao kều kia, bà gày nhom đó…

Nếu là một bài thơ hay, ai đọc cũng thích thú khiến người ta phải thuộc, rồi lưu truyền, rồi mách bảo nhau tìm đọc, lại không có tên, thì biết nói với nhau thế nào, chẳng lẽ cứ lôi cái câu đầu tiên ra để xướng lên thay cho tên bài thơ, bởi trên đời này có vô vàn bài không đề, làm sao phân biệt? Ví dụ: Nếu Hữu Loan không đặt tên cho bài thơ nổi tiếng của mình là “Màu tím hoa sim”… mà để là Không đề thì đến nay mỗi khi nhắc bài này không lẽ chúng ta lại nói đó là bài “Nàng có ba người anh đi bộ đội”… (Câu đầu)? Bởi nếu nói bài “Không đề” (giả dụ) thì ai lần ra được! Cũng như vậy với bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, phải gọi là bài “Sáng mát trong như sáng năm xưa” sao?

Thơ “Không đề” - Nên chăng? -0
Một buổi nói chuyện thơ.

Chắc chắn chúng ta dễ dàng thống nhất với nhau: Có thể khó tìm tên thật hay, thật phù hợp cho một bài thơ, nhưng không phải là bó tay, bất lực. Có bài đặt tên rất dễ dàng, nhưng lại nhiều khi khó khăn, nghĩ mãi không ra tên vừa ý. Vấn đề là phải động não, kiếm tìm. Không ít trường hợp bài thơ đã hoàn chỉnh, không thể sửa chữa thêm gì được nữa, và viết ra nó chỉ trong thời gian một, vài giờ, thậm chỉ mấy phút. Vậy mà cả ngày, có khi cả tuần, cả tháng sau vẫn chưa nghĩ được ra cái tên. Thế là nhiều người bèn để là “Không đề” cho xong việc, chấm hết việc trăn trở miên man, vừa mệt vừa ảnh hưởng đến những việc khác cùng lúc đang theo đuổi.

Tôi xin mạn phép một vài tác giả của những bài thơ được dẫn sau đây để bày tỏ cảm giác đáng tiếc khi các anh, chị đã đặt tên cho những bài thơ khá hay của mình là “Không đề”. Trong tập thơ “Mưa cỏ” (NXB Quân đội nhân dân), Hải Đường có bài thơ sau đây gây ấn tượng khá mạnh cho người đọc, bộc lộ rõ bút lực sung mãn của anh trong lĩnh vực sáng tác thơ:

Gió thổi miền chờ, tóc em hương bưởi
Gió lùa khe cửa em không nhà
Gió lay hoa bằng lăng tím đất
Chăn chia rồi, đủ ấm không em?

Gió quật ngã những cây cổ thụ
Nơi tâm bão, trời ơi em ở đó!
Chiều nay lặng gió
Sao em chưa về?

Xin miễn phân tích để bạn đọc tự cảm nhận. Bài thơ hay là như vậy mà tác giả đã đặt tên là “Không đề”.

Hãy để ý 4 trạng thái của gió (gió thổi, gió lùa, gió lay, gió quật ngã) đều được tác giả cho in nghiêng, nghĩa là lưu ý người đọc đặc biệt suy nghĩ về nó. Vậy sao không đặt tên bài thơ là “Gió” thay vì “Không đề”? Liệu có phải vì tác giả sợ ít nhiều lặp lại Tế Hanh với bài “Bão” nổi tiếng từ mấy chục năm trước? Không! Không thể ngại điều này vì Gió và Bão khác nhau, gió gây cảm giác dễ chịu, mát mẻ, nếu không cũng chỉ là sự giá rét nếu là gió mùa Đông Bắc, còn bão thì khốc liệt, tàn phá, để lại hậu quả khôn lường.

Thúy Bắc là một nữ sĩ không xa lạ. Thơ chị luôn trăn trở nhiều nỗi niềm. Bài “Vô đề” sau đây thật hay:

Nhiều năm em đợi anh
Gió đêm về hoang dại
Đặt tim người trở lại
Ngày em đi lấy chồng
Mây buông dải tang thầm
Tiễn một đời con gái.

Xót xa, buồn tủi, tiếc nuối, đau thương đến thế là cùng như một ngày đưa tang ai đó ruột thịt, thân thích lắm. Vâng, mây đã để tang cuộc đời người con gái như là sự kết liễu số phận cô, vì còn ý nghĩa gì nữa đâu, khác nào em đã chết do đi lấy kẻ khác làm chồng mà không phải là lấy anh. Chỉ có 6 câu mà gieo vào người đọc rất nhiều cảm xúc dư dả, đầy ắp, trĩu nặng. Thật uổng phí thay khi bài thơ mang tên “Vô đề”. Sao không đặt tên bài thơ rất hay này là “Ngày em đi lấy chồng” hoặc… “Tang!”. (Cái tên thứ hai sẽ rất độc đáo, phải đọc xong bài thơ mới hiểu vấn đề, sẽ chẳng hình dung được tác giả nói gì trước khi đọc).

Trong tập “99 bài thơ hay về mẹ” (NXB Hội Nhà văn), Trần Quốc Thực có một bài thật cảm động với những câu:

Mẹ ơi áo mẹ mười năm nắng
Tóc mẹ phơ phơ dáng lặng thầm
Mẹ ơi tay mẹ mười năm trắng
Chân mẹ mười năm mưa nắng ngâm…

Thơ “Không đề” - Nên chăng? -0
Trong những tập thơ như thế này không biết có mấy bài "Không đề"?

Bài thơ có 3 khổ 4 câu. Phần dẫn ở trên là khổ giữa. Đọc cả bài thơ ta thấy toát lên một tình thương vô cùng sâu nặng, bình dị và ấm áp của tác giả đối với người mẹ của mình nơi quê nhà. 10 năm! Chắc tác giả muốn nói đó là quãng thời gian xa cách, không thể gặp mẹ (có thể là đi bộ đội hoặc công tác đặc biệt gì đó ở xa). Người đọc bắt gặp tình cảm của mình dành cho mẹ mà tác giả đã nói hộ. Trong trái tim mỗi chúng ta đều có tình cảm lớn lao dành cho mẹ như thế. Vậy mà Trần Quốc Thực cũng đề tên bài thơ là “Không đề”. Với bài này, có thể mang tên “10 năm” hoặc “Mẹ”.

Trong giới lý luận phê bình văn học, có một người viết là Đinh Quang Tốn. Nhưng ông còn làm thơ trước khi viết lý luận. Thơ ông chân tình, mộc mạc, thuyết phục người đọc bởi trái tim đôn hậu, dào dạt tình người, tình đời với lối nói dung dị, không một chút màu mè, tô vẽ. Trong tập “Trăng suông” (NXB Hội Nhà văn), ông có tới hai bài mang tên “Không đề”. Đây là bài “Không đề 2” khép lại tập thơ (Vì trước đó đã có một bài có tên này):

Sắc thơm dần sẽ nhạt
Hương thơm rồi cũng hao
Quy luật mọi người hiểu
Vô tư có ai nào?
“Ngũ thập chi thiên mệnh”
Mọi người cứ nói hoài
Sao dòng đời mải miết
Thanh thản nhìn mấy ai.

Tác giả không có ý lên giọng triết lý mà muốn tâm sự, gửi gắm đến cuộc đời một lời nhắn nhủ: Đã ở tuổi “tri thiên mệnh”, sống chết biết lúc nào, sao người đời vẫn cứ còn mải miết đua chen chi vậy? Số người sống thanh thản chẳng thấy mấy ai? Tác giả chắc chắn phải làm bài thơ này khi đã bước qua ngưỡng tuổi “tri thiên mệnh”. Bài thơ khiến người đọc dễ đồng cảm, nếu cũng đã ở vào tuổi trên. Vậy sao không có thể mang tên “Cảm tác tuổi tri thiên mệnh” hoặc “Thanh thản”? (Có dấu?)

Tôi có hân hạnh được nhiều người làm thơ đọc cho nghe sáng tác khi mới hoàn thành. Nhiều vị loay hoay mãi không biết đặt tên bài thơ là gì, bèn nghĩ tới cái tên “Không đề”. Tôi bèn sẵn sàng nghĩ cùng họ. Có bài thấy ngay cái “tít”, có bài nghĩ mãi không ra. Nhưng phải nghĩ bằng được, không thể lười biếng. Rồi thì cũng tìm được, cũng ổn. Nhớ chuyện của bản thân. Một lần, tôi vô cùng rung động trước một đôi mắt, đã làm ngay một bài thơ ngắn để tặng đối tượng đang sở hữu đôi mắt kia. Rất nhanh, chẳng khó khăn gì để xong bài thơ:

Muốn bơi trong mắt em
Nhưng anh sợ bị đắm
Bởi tận cùng thăm thẳm
Anh nào biết nông sâu.

Nghĩ mãi không ra cái tên, định bụng bắt chước người khác đặt là “Không đề” cho xong. Nhưng rồi thấy không được, phí, bởi mình luôn phê phán việc này, nay lại mắc sao? Thế là phải một tuần sau, qua rất nhiều tìm kiếm, trăn trở, ảnh hưởng rõ rệt đến bữa ăn, giấc ngủ, tôi mới nghĩ ra được tên bài thơ, tự thấy rất vừa ý: “Sợ!”. Vâng, tên bài thơ trên là “Sợ!”. Ổn quá! Rất nhiều người ghi nhận.

Sáng tạo trong thơ luôn là một lao động vất vả, hao tốn nhiều năng lượng, nếu muốn thuyết phục được người thưởng thức. Cần xác định rằng nghĩ cái tên tác phẩm là một phần cần thiết sau khi hoàn thành công việc sáng tác, không thể coi nhẹ. Cũng như con người ta vậy. Lẽ nào ai đó vừa có hình thức bắt mắt, vừa có tính cách, phẩm chất hay, lại không có tên để thiên hạ muốn gọi phải xướng lên: “Ai ơi!” hoặc “Người ơi!”. Mong rằng thơ cũng thế, sẽ chẳng còn những bài thơ hay phải mang tên “Không đề”.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).