(Đọc tập "Tổng tập thơ chữ Hán Nguyễn Du" do Đỗ Trung Lai soạn sách và dịch lại thơ, NXB Hội nhà văn - 2020)

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du - chồng khít lên cuộc đời ông

LTS. Tháng 9 năm ngoái, chúng ta vừa long trọng kỷ niệm 200 năm ngày mất và 250 năm ngày sinh của đại thi hào Nguyễn Du. Đây thật là một dịp thích hợp để hậu thế, một lần nữa, "trả lời" câu hỏi đau đáu của đại thi hào lúc sinh thời: "Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?". (Ba trăm năm nữa, trong thiên hạ/ Ai người ngồi khóc Tố Như lang?).

Nhân dịp này, nhà thơ Đỗ Trung Lai vừa cho in cuốn "Tổng tập thơ chữ Hán Nguyễn Du" (Nhà xuất bản Hội Nhà văn). Anh nói vui: "Việt hóa đi cho quân ta dễ đọc!".

Văn nghệ Công an xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách này! Và, mời bạn đọc tìm hiểu cuốn sách qua bài viết sau đây của tiến sỹ Đỗ Anh Vũ.

Tượng đại thi hào Nguyễn Du tại quê hương ông, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Tượng đại thi hào Nguyễn Du tại quê hương ông, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. 

Cuốn sách cho chúng ta biết, sự nghiệp thơ của Nguyễn Du chia làm 2 phần:

1. Thơ chữ Hán: "Thanh Hiên thi tập", "Nam trung tạp ngâm", "Bắc hành tạp lục".

2. Thơ chữ Nôm, mà Truyện Kiều là kiệt tác.

Ở đây, chỉ xin nói về thơ chữ Hán của đại thi hào. Nguyễn Du để lại "khoảng" 400 bài thơ chữ Hán. Nói "khoảng" là vì nhiều khi, với cùng một tên bài, ông viết nhiều kỳ (Ví dụ bài "Điệu hát Trúc Chi viết ở Thương Ngô", có những 15 kỳ). Đó thật là một di sản lớn.

Qua thơ chữ Hán, nhân sinh quan, thời thế, gia cảnh, hành trang, tình cảnh và tình cảm của ông hiện ra rõ mồn một. Có thể nói, đời Nguyễn Du dường như "chồng khít" lên thơ chữ Hán của ông vậy.

Nguyễn Du xuất thân "Danh gia vọng tộc". Viễn tổ (Tổ 3 đời) của Nguyễn Du là Nguyễn Thiến, đỗ Đình nguyên, làm Thượng thư bộ Lại dưới triều Mạc.

Cha là Nguyễn Nghiễm, đỗ Hoàng giáp năm 1732, làm quan đến Tể tướng, Đại Tư không, Thái tử Thiếu bảo, tước Xuân Quận công. Nguyễn Nghiễm có 8 vợ, 21 con (12 con trai). Con cả là Nguyễn Khản, từng làm đến Tham tụng dưới trướng Chúa Trịnh.

Đến khi Tây Sơn đổ, Nguyễn Ánh lên ngôi (1802) và tuyên triệu các quan lại cũ của nhà Lê ra làm việc, thi hào Nguyễn Du lần lượt nhận các chức: Tri huyện Phù Dung (Hưng Yên), Đông các Đại học sĩ (ở Huế), Cai bạ Quảng Bình. Sau khi làm Chánh sứ đi Trung Hoa về, ông được thăng Tham tri bộ Lễ nhưng ông, trong thơ, tỏ ra không mặn mà gì với việc làm quan, thậm chí còn thấy ông luôn "than thở" về nó nữa!

Nguyễn Du viết khi ở Quỳnh Côi, Thái Bình: "Xa quê, gió bụi mười năm trọn/ Tóc bạc bơ phờ gửi cửa người". (U cư - Ở nơi vắng vẻ, kỳ hai).

Sau "Mười năm gió bụi" ấy, ông về ẩn ở Hồng Lĩnh và viết "Nam trung tạp ngâm". Thời gian ông sống ở Hồng Lĩnh, tuy vẫn nghèo nhưng tinh thần đã dần lạc quan hơn: "Mắt thấy việc đời như mây nổi/ Lưng đeo trường kiếm, gió Thu rơi/ Chuyện thầm với trúc ngoài sân vắng/ Sương tan, rồng sẽ hiện lên thôi". (Ký hữu - Gửi bạn); "Thời nhàn không xa đâu/ Hẹn trung châu tái ngộ!". (Biệt Nguyễn đại lang - Chia tay bác cả Nguyễn).

Thời thế lúc ấy vào trong ông mà sinh tình: "Thềm ngọc mười năm mờ cát bụi/ Bắc thành, một nửa hóa gò hoang/ Trùng nhát, chim hèn bay hết cả/ Càn khôn nhơ nhớp máu nhân gian/ Binh lửa, trông quê ngàn dặm khóc/ Bạn bè, thân thích ít thư sang/ Thu nhạt, cá rồng bơi lặng lẽ/ U hoài trăm mối, đập không tan". (Bát muộn - Đuổi sầu).

Gia Long triệu, ông ra, nhưng kể cả khi làm quan triều Nguyễn, con người ông vẫn vậy và "quan cảnh" của ông ở tân triều cũng chẳng vui gì! Tiêu biểu cho thời làm quan này là bài "Thu chí - Thu đến", viết ở Huế: "Hương Giang, trăng một phiến/ Cổ kim treo gọi sầu/ Cỏ buồn trên mộ cũ/ Thu mới, ta bạc đầu/ Thân gầy như thân lính/ Lưng khom không vì đau/ Bến Lam Giang nhìn lại/ Thẹn sai cùng bạch âu".

Nói đến nhân sinh quan, không ở đâu nhân sinh quan Nguyễn Du bộc lộ rõ như ở những bài thơ viết trên đất Trung Hoa trong "Bắc hành tạp lục", trên đường ông đi sứ. Ở đó, mọi sở học của ông đều có thể tung hoành: Sự am tường lịch sử, văn hóa - thi ca Trung Hoa, nghệ thuật làm thơ Đường luật, những giá trị Nho gia chính thống, sự phong phú của chữ nghĩa, sự nhạy cảm - tinh tế của một nghệ sĩ lớn... giúp ngòi bút ông khoát hoạt hơn, gấm hoa hơn. Có lẽ cũng còn vì viết về Trung Hoa ở Trung Hoa, ông không phải e dè gì hết.

Kính trọng và thương xót Khuất Nguyên, ông viết: "Vườn "Đức" vắng Người hai ngàn năm/ Vẫn vương hương cỏ với hương lan/ Đứt ruột, ba năm đày khỏi nước/ "Sở từ", vạn cổ vẫn huy hoàng/ Sông lắm giao long, hình cốt mất/ Hoa cỏ càng thơm dọc bãi hoang/ Hút mắt không nhìn ra dấu cũ/ Lá vàng theo gió vượt Tương Giang!". (Tương Đàm điếu Tam Lư Đại phu - Đến Tương Đàm, viếng Khuất Nguyên, kỳ 1).

Với Đỗ Phủ, ông viết: "Cứ đọc "Mũ nho làm lụy thân"/ Lại khóc thương người đất Đỗ Lăng/ Văn chương sáng chói, dùng đâu nhỉ/ Con đói kêu dài, bỏ được chăng?/ Thiên hạ khen thơ thầy vạn thuở/ Tôi thương mồ lạnh chốn xa xăm/ Thuyền lẻ trên sông, Thu dào dạt/ Chiều Lỗi Dương về, sầu khôn ngăn!". (Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ - Qua mộ Đỗ Phủ ở Lỗi Dương, kỳ 2).

Qua Thương Ngô, nhìn núi Cửu Nghi, nơi có đền thờ Ngu Thuấn, Nguyễn Du không thể không có cảm hứng với chuyện, khi Thuấn mất trong cuộc tuần du, hai bà vợ (Nga Hoàng và Nữ Anh - con gái vua Nghiêu) ra bờ sông Tương, vừa gảy đàn 25 dây (Nhị thập ngũ huyền cầm) vừa khóc, nước mắt hai nàng rơi xuống dây dàn, bắn lên rặng trúc bên bờ và từ đó, trúc sông Tương có hoa trắng lốm đốm rất đẹp, người ta chẻ trúc ấy làm mành, gọi là "Mành Tương", và ông viết: "Ngu Thuấn tuần Nam không trở lại/ Trúc xanh đọng mãi lệ Anh Nga/ Chuyện cũ ngàn năm còn để dấu/ Sử ký hiện hình trước mắt ta". (Thương Ngô tức sự - Gặp cảnh mà viết ở Thương Ngô).

Ông "truy kích" Mã Viện từ Việt sang Trung: "Được tiếng vua khen ngoài sân điện/ Đâu biết em mình buồn thế kia/ Đồng Trụ chỉ lừa nhi nữ Việt/ Xe ngọc chỉ làm con cháu nguy/ Họ tên hợp với Vân Đài các/ Sao ngoảnh về Nam đòi lễ nghi?". (Giáp Thành Mã Phục Ba miếu - Miếu thờ Mã Viện ở Giáp Thành, Kép, Bắc Giang).

Bìa cuốn sách "Tổng tập thơ chữ hán của Nguyễn Du" do Đỗ Trung Lai soạn sách và dịch lại thơ.
Bìa cuốn sách "Tổng tập thơ chữ hán của Nguyễn Du" do Đỗ Trung Lai soạn sách và dịch lại thơ.

Đến Nghiệp Thành, nơi có 72 ngôi mộ giả của Tào Tháo, ông "mắng" thẳng: "Nghiệp Thành, đồng bãi ngập hơi thu/ Cây cỏ tiêu điều, ngẫm chuyện xưa/ Trí lự một đời, sao uổng thế/ Hay chi? Vạn cổ đổ nghi ngờ/ Quách đầy tiếng xấu, còn chôn giấu/ Đời chửi lên xương cũng lặng tờ/ Cẩm thành, quanh miếu thờ Tiên chủ/ Tùng xanh, bách sáng đến bây giờ". (Thất thập nhị nghi trủng - Bảy mươi hai ngôi mộ giả). "Cẩm thành" chính là Thành Đô - kinh đô Thục Hán, "Tiên chủ" chính là Lưu Bị. Nguyễn Du trọng Lưu - khinh Tào.

Đến mộ Lưu Linh, một trong "Thất hiền" thời Đông Hán, "bợm rượu" nổi tiếng nhất Trung Hoa, ông "trêu": "Say, vẫn nói mình ngang vạn vật/  Sao lo thân xác lúc lìa hồn?". Nhưng rồi nhìn lại mình, ông tự hỏi: "Sao ta lấy tỉnh trông đời vậy?/ Để như bèo dạt, thật thương tình!". (Lưu Linh mộ - Mộ Lưu Linh). Có lẽ, ông đã "ngộ" lời Hứa Do, khi Hứa Do rửa tai, hai lần từ chối lời mời làm vua của Đế Nghiêu: "Danh chỉ là khách. Thực mới là chủ". Thật vậy, say - tỉnh, thành - bại, sang - hèn..., suy cho cùng cũng chỉ là danh. Thực có nhàn không (nhất là vui nhàn), với ông, mới là trọng!

Rồi ông viết về Hạng Vũ, Liêm Pha, Lạn Tương Như, Dự Nhương, Kinh Kha, Chu Du, Lý Bạch, Nhạc Phi, Tần Cối v.v... và v.v..., cũng với nhân sinh quan ấy.

Có thể nói, thơ chữ Hán của Nguyễn Du, đặc biệt là ở mảng đề tài viết ở Trung Hoa, nhiều bài thơ của Nguyễn Du có thể xếp cùng vào thơ hay Đường - Tống!

Đúng như nhà thơ Đỗ Trung Lai đã viết: "Thơ chữ Hán Nguyễn Du dường như chồng khít lên cuộc đời của thi hào vậy!".

Ai yêu Nguyễn Du, chắc thích cuốn sách này.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).