Theo cánh hạc bay...

Nhật Bản là một trong những dân tộc yêu chim hạc nhất, đến mức có một bộ môn nghệ thuật gấp giấy truyền thống không cần sử dụng kéo hay keo, gọi là Origami tức “hạc giấy”. Hầu hết các thiếu nữ đều học kỹ năng gấp giấy Origami ở nhà, trước khi đến trường.

Tập quán này được thiêng hóa, ngoài là một vật dùng trong giao tiếp thể hiện sự hiếu khách, còn nâng lên thành phong tục cầu nguyện trường thọ, bình yên, an lành… Thế nên ở Nhật Bản, hình chim hạc trang trí ở khắp mọi nơi, trên tờ tiền yên, trong hội họa, kiến trúc, thi ca, còn là biểu tượng cho hãng hàng không quốc gia.

image001.jpg -0
Hình ảnh hạc bay trong hội họa Nhật Bản.

Cổ tích Nhật Bản kể, ngày xưa, có một lão nông hiền lành, nhân hậu cứu một con chim hạc đang mắc bẫy. Vào một ngày nọ một cô gái xinh đẹp đến gõ cửa nhà ông lão. Cô nói bị lạc đường. Vợ chồng ông vui lòng cho cô ở nhờ. Cô xin ở riêng trong một phòng. Vô tình chủ nhà thấy trong phòng ấy một con chim hạc đang dệt vải bên khung cửi bằng cách tự bứt những chiếc lông trắng tinh của chính mình… Mấy hôm sau người con gái ấy dệt một tấm vải tuyệt đẹp tặng vợ chồng ông lão. Thì ra cô gái chính là chim hạc mà ông lão đã cứu giúp...

Huyền thoại này cắt nghĩa hình tượng chim hạc là “linh điểu” của văn hóa Nhật. Rồi hạc thành biểu tượng cho sự chung thủy, vì vợ chồng chim sống bên nhau suốt đời không thay đổi, biểu tượng cho “bách niên giai lão”. Người ta lại thấy những buổi chiều, hạc bay về phía Tây, phía mặt trời lặn, phía của nhà Phật, hạc thành biểu tượng cho nguồn cội. Với tiếng kêu đĩnh đạc, nhiều khi thảng thốt như kéo trời đất gần nhau, hạc liền trở thành biểu tượng của sự gắn nối… Còn là biểu tượng cho sự cao quý bởi hình dáng thanh thoát.

Chuyện kể ngày xưa có loài chim thấp bé, xấu xí nghe tin ở xứ Mặt Trời có loài dạ thảo ăn vào sẽ trở nên xinh đẹp. Cả bầy quyết chí lên đường. Cứ phía mặt trời mọc chúng bay mãi, bay mãi. Nhiều ngày vẫn chưa đến nơi. Rồi một ngày kia vì quá cố gắng mà đuối sức, cả đàn sà xuống một vùng đất lạ... Bình minh ló rạng, chúng vùng dậy uống nước lấy sức để tiếp tục hành trình. Nhưng lạ chưa, soi mình xuống dòng suối thì chúng nhận ra không phải chính mình mà là một loài khác, thật đẹp, cổ dài, thân mảnh, chân thon... Chúng đã trở thành loài hạc cao quý từ đấy. Thì ra ai cũng khát khao được đẹp nhưng chỉ có ai quyết tâm bền chí và tôn thờ đến cùng lý tưởng thẩm mỹ thì mới trở nên Đẹp.

Người Nhật Bản xây dựng đền Himeji (hạc trắng) thật hoành tráng và nên thơ có mô hình như một con hạc chuẩn bị cất cánh bay. Năm 1993, đền này đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Nhiều người nói đến Nhật Bản mà chưa đến Himeji thì coi như chưa đến Nhật.

Cùng cảm hứng ấy, nhà văn Yasunari Kawabata nổi tiếng thế giới viết một tiểu thuyết có tên “Ngàn cánh hạc”, một truyện tình chứa nhiều truyện tình (truyện lồng truyện). Mà lại là truyện tình xuyên thời gian, xuyên không gian. Cốt truyện hay, hình tượng sống động, trữ tình và thổn thức đến mức lật mỗi trang sách có cảm giác cánh hạc thoát ra ngoài không gian chấp chới bay về miền vô thức. Đúng là “ngàn cánh hạc”!

Nếu tới Trung Quốc mà chưa đến Hoàng Hạc Lâu (lầu Hoàng Hạc) cùng hình ảnh sông Trường Giang sóng vỗ, thì có thể coi là chưa đến xứ Trung Hoa. Vì đó là một trong “Tứ đại danh lâu”, tích hợp cả một bề dày mã văn hóa Hoa Hạ lung linh tỏa sáng những ý nghĩa. Các thi nhân thiên tài Thôi Hiệu, Lý Bạch, đã từng đến đây rồi để lại những áng thơ kiệt tác.

Sách“Liệt tiên toàn truyện” kể ngày xưa có một người bán rượu ở chân núi Hoàng Cốc gặp một đạo sĩ già đến xin rượu uống. Hôm từ biệt, đạo sĩ nói tặng con hạc quý để tỏ lòng biết ơn. Nói rồi ông lấy một miếng vỏ cam vẽ lên tường và dặn khi cần nó nhảy múa thì vỗ tay... Từ đó quán rượu nổi tiếng. Chủ tiệm trở nên giàu có.

Mười năm sau vị đạo sĩ ấy quay lại rút ra một cây sáo rồi thổi... Trên trời, một con hạc vàng rẽ những đám mây trắng hạ xuống. Vị đạo sĩ cưỡi lên, hạc bay lên trời. Hình vẽ con hạc trên tường tự nhiên mà mất. Từ đó nơi ấy được xây thành lầu cao như một cách để lưu giữ huyền thoại. “Hoàng Hạc Lâu” nghĩa là “Lầu Hạc Vàng” có từ đấy! Hạc vàng đi mất nhưng để lại bài thơ “Hoàng Hạc lâu” nổi tiếng “nhờ” Thôi Hiệu chắp bút: “Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?/ Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ/ Hạc vàng đi mất từ xưa/ Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay…” (Tản Đà dịch).

image003.jpg -1
Hình ảnh minh họa lầu Hoàng Hạc.

Ở Việt Nam, ngày xưa hạc thường được thêu vào lụa (tranh lụa), được khảm vào đồ gỗ quý, được khắc vào hiện vật kim loại để tiến vua hoặc biếu tặng các bậc quyền quý. Ở chùa chiền, đình, đền đều có cặp hạc rùa: “Thương thay thân phận con rùa/ Trên đình đội hạc, dưới đền/chùa đội bia”. Rùa cũng là một linh vật sống thọ nên thờ cặp hạc rùa là tôn thờ khát vọng được vững bền, trường cửu. Ngày nay, với những gia đình có điều kiện, trên bàn thờ gia tiên thường có đôi hạc thờ bằng đồng vừa mang ý nghĩa tâm linh vừa có giá trị phong thủy.

Ngụ ngôn Việt kể, ngày xưa, hạc và rùa là đôi bạn thân. Khi đi kiếm ăn, hay đi rong chơi, rùa để hạc đứng trên lưng... Chúng thành đôi bạn tri kỷ không thể thiếu nhau rồi trở thành biểu tượng cho tình bạn cao đẹp, lối sống vị tha, ân nghĩa, ân tình, tương trợ giúp nhau... Điều này rất phù hợp với giáo lý cứu độ của nhà Phật và lối sống duy tình người Việt.

Theo lẽ tự nhiên rùa, hạc được ngự trên ban thờ, không chỉ để thờ tổ tiên mà còn thờ phẩm chất tình thương đáng quý, đáng trọng. Hạc lại thường ngậm viên ngọc to hay ngậm hoa sen. Vì có gì quý hơn ngọc đâu? Có gì thanh khiết hơn sen đâu? Lại có cả hạc đội đèn? Trong đêm thì ánh đèn tỏa sáng. Đó là ánh sáng của tình người, của trí tuệ và trí huệ, cũng là ánh sáng của sự giác ngộ khi con người ta rời bỏ bóng đêm “tham, sân, si” để vươn tới thế giới ánh sáng Niết Bàn cao quý!

Tín ngưỡng Việt coi rùa là biểu tượng cho vũ trụ, hạc đứng trên lưng rùa tức còn “trên” tầm vũ trụ. Nói khác đi, những điều cao quý được gửi gắm vào hình tượng con hạc sẽ sống mãi cùng trời đất. Hạc và rùa đều là những con vật lưỡng cư. Rùa vừa có thể sống dưới nước lại vừa có thể sống trên cạn. Hạc vừa ở trần gian lại vừa sống chốn Bồng Lai tiên cảnh, vừa là (vật) của phàm trần lại vừa của chốn tiên. Cặp đôi này đi cùng nhau sẽ tạo ra một mô hình âm - dương lý tưởng.

Theo thuyết phong thủy phương Đông, hạc thuộc dương, rùa thuộc âm. Đương nhiên hạc đứng trên lưng rùa. Đó là sự cân bằng âm dương vững vàng nhất. Thế nên được đặt trên bàn thờ còn là để ngăn chặn những linh hồn vật vờ, những yếm khí, những tà ma đến “cướp phá” lộc của tổ tiên hay quấy quả sự yên bình thiêng liêng. Được đặt ở đình, đền, chùa cũng theo ý nghĩa ấy!

Ở Trung Quốc, Nhật Bản phần lớn những câu chuyện về hạc được huyền thoại hóa nhưng ở Việt Nam ta thì có một chuyện thật, ngay mới đây. Đó là ngày khai mạc Lễ hội đền Cuông (từ 14-16/2 âm lịch tại Diễn Châu - Nghệ An) năm 1995, cả ngàn người đang xem màn diễu hành cưỡi ngựa, đột nhiên một con hạc trắng muốt rất to bay đến rồi đậu trên tay người cưỡi ngựa. Không hề tỏ ra sợ hãi, hạc còn vỗ cánh chấp chới như chào tất cả...

Hạc không bay đi mà ở lại. Mọi người liền rước hạc vào đền trong sự kính cẩn và niềm tin tâm linh: hiện thân của linh hồn Mỵ Châu chết oan từ mấy ngàn năm trước. Lễ hội kết thúc, một ngày sau hạc hóa! Hạc được ướp xác rồi được thỉnh vào lồng kính. Đến nay ai đến đền Cuông cũng còn thấy hạc như còn đang thao thức!

Một năm sau đó, cũng trùng ngày lễ hội, ở phía bờ biển Cửa Hiền (Diễn Trung - Diễn Châu), phía sau đền Cuông, một con cá voi khoảng 10 tấn “lụy” (chết) bờ. Đối chiếu với huyền sử thì đúng là nơi ngày xưa An Dương Vương “đi” xuống biển! Mọi người bèn cung kính đưa “Ông” đi táng theo đúng nghi lễ phong tục trong niềm tin rằng “Ông” là hiện thân của Vua An Dương Vương!

Có khi chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên nhưng sâu thẳm trong miền tâm linh của mọi người thì vẫn hiển hiện bóng dáng nàng Mỵ Châu trong như ngọc, thanh khiết như ngọc qua hình hài con hạc, dù đã qua cả mấy ngàn năm, đến nay vẫn còn thổn thức đứng đó. Trong truyền thống văn hóa Việt, các bậc đại nhân thường hay tự ví mình với chim hạc. Cụ Nguyễn Trãi tự ví mình với con “chim hạc già” (tên bài thơ) khí khái thà sống tự do nơi thâm sơn cùng cốc quyết không chịu sống trong cái lồng công danh lợi lộc.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).