Thế nào là một người đọc chuyên nghiệp?

Một nền văn học chuyên nghiệp là một nền văn học có được sự đọc chuyên nghiệp. Nhưng, như thế nào là đọc chuyên nghiệp? Nói cách khác: đọc chuyên nghiệp là đọc như thế nào? Sẽ có nhiều bình diện để xác lập và mô tả cơ chế đọc chuyên nghiệp. Ở đây, trước hết, tôi muốn đề cập các phương diện liên quan đến văn bản mà một người đọc chuyên nghiệp có thể xem xét trong quá trình tiếp cận của mình.

Đứng trước một văn bản văn học là đứng trước một con người. Vì vậy, điều đầu tiên khi ai đó có ý định tiếp cận con người ấy là ý thức rằng, mình cần phải giao tiếp với văn bản. Tập hợp các vấn đề - cơ hội giao tiếp, được mở ra tại thời điểm này.

“Trước hết”, cần phải biết chủ thể tạo lập văn bản ấy - tác giả của văn bản là ai? Câu hỏi này hướng đến việc nghiên cứu - hiểu biết về tiểu sử tác giả, như là một kênh để tham chiếu các khả năng hiện diện, từ mối liên hệ giữa nhà văn và tác phẩm. Không bị áp lực từ quan điểm “tác giả đã chết”, góc nhìn này cho chúng ta cơ hội được biết dấu vết nào di thực từ cuộc đời tác giả vào trong tác phẩm. Trường phái phê bình tiểu sử và sau đó là phê bình phân tâm học đã nhấn mạnh các yếu tố trong tác phẩm có nguồn gốc từ tác giả, ít nhiều tạo nên một hệ thống quan điểm - phương pháp cho việc đọc thực chứng, từng rất quyền uy. Việc cho rằng, “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh) mang dấu vết tự truyện, chính là hệ quả của lối đọc tiểu sử này.

Thế nào là một người đọc chuyên nghiệp? -0

Khía cạnh thứ hai, vừa liên quan đến tác giả (chủ quan), đồng thời có những điểm tạo nên cơ chế khách quan cho sự ra đời của văn bản, đó là thời đại, bối cảnh văn hóa - lịch sử. Sự nở rộ của thể loại trường ca sau ngày đất nước thống nhất có nguyên do khá lớn từ thời đại, khi con người cần phải tổng kết, chiêm nghiệm, nhìn ngắm lại hành trình vĩ đại của dân tộc đã đi qua chiến tranh với cảm hứng sử thi, bi tráng. Đồng thời, khi thời đại đã cho phép, những ngẫm ngợi về lẽ sống của đoàn thể, dân tộc, cá nhân, những giá trị cao cả và thường hằng, cái chung và cái riêng… cũng được soi chiếu, nhận diện. Đó là cơ hội cho cảm hứng thế sự - đời tư trong văn học Việt Nam sau 1975.

Bình diện thứ ba, cần được chú ý khi tiếp cận một văn bản văn học, đó là ngôn ngữ. Đây là hình thức trực tiếp mà người đọc có thể tri nhận, mở cánh cửa đi vào thế giới nghệ thuật. Mọi thứ hiển hiện qua hình thức. Do vậy, không thể bỏ qua yếu tố quan trọng này. Có rất nhiều chồi rễ mọc ra từ hình thức, đâm cành, tỏa bóng vào các vỉa tầng nghệ thuật. Chẳng hạn, ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ văn xuôi (thể loại), ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ người kể chuyện, từ địa phương, tiếng lóng, các sắc thái tu từ trong ngôn ngữ, cú pháp… Lối làm thơ nhịu chữ của Lê Đạt, thi pháp âm bồi trong thơ Dương Tường, lối làm chữ của Trần Dần, Đặng Đình Hưng, những bài thơ chữ cái của Từ Huy, họa thi của Nguyễn Thị Thúy Hạnh… là gợi ý cho bình diện giao tiếp này. Cũng ở khía cạnh hình thức, người đọc có thể nhận ra những câu văn ngắn, khô, lạnh và nghiệt ngã trong văn Nguyễn Huy Thiệp (nhất là khi nhà văn viết về đàn ông, về phố thị và các chứng tật của cuộc đời). Nhưng, cũng chính Nguyễn Huy Thiệp, khi viết về người phụ nữ và thiên nhiên, ông lại sử dụng những câu dài, ngôn ngữ mềm mại, nâng niu đầy trân trọng, gửi gắm và hi vọng.

Khía cạnh ngôn ngữ nghệ thuật này có thể được mở rộng đến bình diện thứ tư, cũng là bình diện lớn nhất trong khả năng giao tiếp của độc giả đối với văn bản văn học: hệ thống ký hiệu. Nghĩa là, tất cả mọi biểu hiện trực tiếp hoặc gián tiếp trong văn bản, thoạt tiên nó là hình thức biểu nghĩa, ẩn giấu, gợi ý… đối với người đọc.

Theo đó, từ hình thức trình bày văn bản đến câu chuyện, tình huống, cảm xúc, hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, nhân vật, cấu trúc, văn phong, nhịp điệu, giọng điệu, điểm nhìn, thủ pháp nghệ thuật… đều có thể xem là những ký hiệu biểu nghĩa, nơi người đọc có thể bám vào nhằm tìm kiếm tiếng nói bên trong văn bản. Giải quyết các khả năng này đem đến cơ hội lớn cho việc giao tiếp nghệ thuật. Đây cũng là trọng tâm của việc đọc, định hình căn bản thao tác chuyên nghiệp của độc giả. Thông thường, người đọc thưởng thức tìm kiếm câu chuyện, cảm xúc, thông điệp, nghĩa - ý nghĩa từ văn bản. Đó cũng là quá trình cấp nghĩa cho các ký hiệu trong hệ thống mà ta đang nói đến.

Điểm khác biệt giữa người đọc phổ thông với người đọc chuyên nghiệp là ý thức về hệ thống ký hiệu này khi bắt đầu hành trình đọc của mình. Chẳng hạn, khi tiếp cận tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, ý thức chuyên nghiệp sẽ mở ra các tình huống mà sự đọc cần tìm kiếm, giải mã. Từ tên của tác phẩm đến nhân vật (Út Vũ, Điền, Nương, Sương…), câu chuyện trôi dạt trên đồng của thân phận con người, giọng điệu man mác buồn thương, ngôn ngữ đậm sắc thái Nam bộ… đều có thể là điểm khởi đầu cho một hành trình diễn giải. Chưa hết, trong thế giới nghệ thuật mà văn bản gợi lên, những biểu đạt về thân thể, giấc mơ, nước, cánh đồng, bầy vịt… cũng ẩn chứa các thông điệp về sinh thái học, phân tâm học, ký hiệu học, nữ quyền luận… mà chắc hẳn cách đọc chuyên nghiệp sẽ không thể bỏ qua.

Hệ thống ký hiệu trong văn bản văn học là cơ sở cho những diễn giải từ sự đọc. Đó cũng là căn cứ để kiểm soát hành vi diễn giải, tránh sa vào tình trạng tùy tiện, khi người đọc được trao quyền lực trong quá trình tiếp nhận. Cũng chính từ hệ thống ký hiệu này mà các khả năng giao tiếp – diễn giải được kích hoạt, phụ thuộc vào tầm đón nhận của người đọc.

Ví dụ cho việc này là sự nở rộ các hướng liên ngành trong nghiên cứu văn học. Không đóng khung văn bản vào giới hạn tự trị của văn học, các không gian mở đã xem xét văn học như là một dữ kiện để khám phá thế giới tinh thần con người, thời đại, văn hóa, sinh thái, lịch sử, nghệ thuật, in ấn, xuất bản và các thiết chế khác có liên quan. Người đọc phổ thông không có nhu cầu hoặc không để ý đến các khả năng này, chính vì vậy, việc đọc của họ thiên về ngẫu hứng, tìm kiếm sự đồng cảm trong cảm xúc - tâm trạng, câu chuyện, thông điệp, giúp giải trí hoặc duy trì một thói quen - thực đơn thường ngày cho tâm hồn.

Người đọc chuyên nghiệp biết mình phải làm gì để giao tiếp được nhiều nhất với văn bản, đi được xa nhất, sâu nhất vào thế giới nghệ thuật ẩn sau câu chữ. Một hình dung lý tưởng cho môi trường đọc chuyên nghiệp chính là người đọc có được bộ công cụ giải mã tác phẩm, ít nhất là căn cứ trên hình thức văn bản. Cộng đồng đọc mạnh, cao cấp, sẽ chi phối trở lại quá trình sáng tác - sản xuất các sản phẩm văn học - văn hóa, như một liên hệ biện chứng, tất yếu.

Đơn cử như việc đọc các bài thơ hiện nay. Nếu người đọc vẫn duy trì mĩ cảm truyền thống, với cách tiếp cận sắc thái du dương, trầm bổng của thơ, cùng những đòi hỏi về vần - khổ, ngôn từ gợi cảm - mĩ miều… chắc sẽ làm nghèo đi đời sống thơ ca. Tuy vậy, trong khả năng của trí tưởng, người đọc đương đại đã có những chuyển biến mới về thị hiếu, khi thích những bài thơ tự do, không chú trọng vần - khổ; ngôn ngữ thơ hàm súc, đa nghĩa hơn, gần gũi với ngôn ngữ đời sống; các thủ pháp nghệ thuật phức tạp, đặc sắc hơn; khả năng khơi gợi cảm xúc - tưởng tượng mạnh mẽ hơn… Những bài thơ sâu sắc, có giọng điệu - phong cách, có cấu trúc độc đáo với hệ thống hình tượng đa nghĩa, thể hiện được cảm quan tinh thần - thẩm mĩ của con người - thời đại… nhìn chung vẫn thu hút được công chúng. Ở phía khác, những bài thơ kể lể, miêu tả, nghèo nàn về nghĩa, đơn giản về thủ pháp, nông cạn về tư tưởng… sẽ nhanh chóng chìm vào quên lãng.

Văn bản văn học hiện diện như một con người. Bởi thế, xung quanh con người ấy có những mối liên hệ xa gần mà người đọc chuyên nghiệp có thể hình dung. Bình diện thứ năm cần được nhấn mạnh tại đây đó là tương quan giá trị của văn bản với hệ giá trị của thời đại - cộng đồng - cá nhân. Một văn bản văn học ra đời đều thể hiện trong đó quan niệm nhân sinh, quan niệm giá trị, quan niệm thẩm mĩ của chủ thể sáng tạo, đồng thời phản chiếu sự tương đồng/ khác biệt hay chất vấn lại hệ giá trị của cộng đồng - thời đại.

Tiếp cận ở khía cạnh này, người đọc sẽ nhận ra vị trí, ý nghĩa của văn bản trong dòng chảy văn hóa - văn học, giúp đánh giá được thành công (hay thất bại) của tác phẩm. Cũng từ bình diện này, người đọc chuyên nghiệp, có hệ thống, sẽ nhận thấy sự tồn tại của một trường văn học, xuyên qua nhiều tác phẩm, tác giả, giai đoạn… (thậm chí là xuyên không gian - thời gian) khi trùng lên nhau những dấu ấn nhất định nào đó. Từ việc nghiên cứu hình thái truyện cổ tích của Propp đến cách hình dung về một nền văn học thế giới với những mối bận tâm sâu sắc về sinh thái không phải là không có căn cứ.

Trở lên, những bình diện được đề cập, liên quan đến văn bản văn học, có thể là đề xuất cho hành vi đọc chuyên nghiệp. Nhưng, đến một lúc nào đó, những đòi hỏi này sẽ trở nên không cần thiết, hoặc thường tình, trong không gian văn học nơi mà ai cũng sở hữu những kỹ năng đọc chuyên nghiệp.

Nguyễn Thanh Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).