Thật, ảo Diêm Vương!

Nhân vật Diêm Vương có nguồn gốc từ tín ngưỡng dân gian Ấn Độ cổ, theo đạo Phật, đi vào rồi được khúc xạ, hấp thu văn hóa Trung Hoa. Truyền vào nước ta, được quy chiếu bởi quan niệm người Việt, hiện diện trong truyện cổ kỳ ảo nên hình tượng này rất sinh động bởi lóng lánh các sắc màu “liên văn hóa”.

Xét từ miền thượng nguồn nguyên thủy, câu chuyện bắt đầu từ việc thần Mặt trời lấy người vợ không phải là thần nên sinh hai người con một trai, một gái là Diêm Ma và Diêm Mật cũng chỉ là người phàm trần. Diêm Ma chính là người đầu tiên của nhân loại chết đi rồi trở thành vua của những người đã chết. Công lao của ông chính là việc phát hiện ra âm giới và trở thành vua (tức Diêm Vương) của thế giới ấy.

Vào Trung Quốc, theo Hán tự thì Diêm Vương nghĩa là trói buộc, bắt giữ những người có tội. Chịu sự ảnh hưởng của quan hệ tôn nghiêm, đa tầng, đa bậc nên cõi âm của Diêm Vương có thêm “Thập điện âm phủ”, tức 10 điện, đứng đầu mỗi điện là một vị Minh vương làm công việc luận tội người đã chết phạm phải khi còn sống trên dương gian rồi thưởng phạt công minh. Như vậy hình tượng Diêm Vương và Thập điện là một biểu hiện cụ thể cho thuyết nhân quả hướng con người ta sống thiện, “ở hiền gặp lành”. Sống ác sẽ chịu “quả báo”…

Thật, ảo Diêm Vương! -0
Hình ảnh Diêm Vương trong tranh cổ Nhật Bản.

Mô hình Diêm Vương và Thập điện âm phủ vẫn có trong Phật giáo Việt Nam có biến đổi chút ít. Đi vào văn học viết, Diêm Vương trở thành nhân vật biểu hiện cho công lý, công bằng, có trong các sách “Truyền kỳ mạn lục”, “Công dư tiệp ký” và các truyện thơ Nôm như “Phạm Công - Cúc Hoa”, đến “Dương Từ - Hà Mậu” của Nguyễn Đình Chiểu…

Hình tượng Diêm Vương được nhắc tới nhiều nhất trong văn học truyền kỳ thời trung đại của ta là ở “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” của Nguyễn Dữ. Chuyện kể Ngô Tử Văn là kẻ sĩ khẳng khái, chính trực. Trong làng của Tử Văn có ngôi đền thiêng. Hồn một tên tướng giặc nhà Minh tử trận trú trong đền cứ tác oai tác quái phá phách. Tử Văn bèn châm lửa đốt đền để trừ hại. Đêm ấy Tử Văn lên cơn sốt mê man, mơ thấy hồn ma đến đòi trả đền và đe dọa bắt chàng xuống âm phủ.

Cảm phục trước hành động dũng cảm của Tử Văn, viên Thổ thần mách chàng cách ứng xử với Diêm Vương và tung tích, tội ác tên giặc nọ. Đêm sau, bệnh nặng thêm, có hai con quỷ đến đưa Tử Văn xuống âm phủ. Trước Diêm Vương, Tử Văn đanh thép vạch trần tội ác hung thần. Diêm Vương sai người điều tra, xác minh cụ thể. Cuối cùng, Diêm Vương phán xử đúng người đúng tội: hồn tướng giặc bị giam trong ngục còn Tử Văn được đưa trở về trần gian. Một tháng sau, Thổ thần tiến cử Tử Văn giữ chức phán sự đền Tản Viên để tạ ơn.

Qua nhân vật chính Tử Văn, truyện đề cao tinh thần khẳng khái, cương trực, dám đấu tranh chống lại cái ác để giúp dân; thể hiện khát vọng công lí, chính nghĩa sẽ thắng gian tà. Hành động đốt đền của Tử Văn là hành động dứt khoát phủ nhận và trừng trị những thế lực thần quyền và cường quyền hắc ám vi phạm chính nghĩa, công lý. Trước hồn ma tướng giặc hung hãn, gian manh, xảo quyệt, thái độ mặc kệ, kiểu ngồi ngất ngưởng của Tử Văn biểu hiện tư thế đứng trên cái ác, cái xấu… Ý chí tự hào, tự tôn dân tộc và hành động vì lẽ phải của Tử Văn đã thuyết phục, thu phục Thổ công. Thổ công tận tình giúp bằng cách kể tường tận về hồn ma, bày cách đối phó với kẻ thù xảo quyệt, ma mãnh trước mặt quan tòa…

Tại điện Minh Ti thuộc thế giới cõi âm, “phiên tòa” công lý đã diễn ra với ba nhân vật chính: Hồn ma tướng giặc “tố cáo” Tử Văn với Diêm Vương chuyện “đốt đền” rồi làm bộ đạo đức giả xin “giảm án” cho Tử Văn. Diêm Vương trách mắng Tử Văn vì hành động vô lễ với thần linh. Tử Văn dùng lý lẽ và sự thật đấu tranh vạch mặt tên tướng giặc đã làm Diêm Vương uy quyền phải suy nghĩ lại. Diêm Vương sai người đến đền Tản Viên “chứng thực”. Sự thật chỉ có một. Tử Văn thắng lợi.

Trước hết, câu chuyện là bài học con người ta phải biết nhận thức về cái xấu. Trước Diêm Vương, mặc dù sai rõ ràng nhưng tướng giặc vẫn tìm mọi cách đổ lỗi cho Tử Văn ngoan cố, không kính trọng thần linh nên gây họa cho dân. Nó khúm núm (để đề cao tòa), tỏ ra oan ức (gợi sự cảm tình), tỏ ra rộng lượng (gợi sự tin tưởng)… Thì ra kẻ xấu ở đâu cũng mang bản chất xấu, luôn có dã tâm và sự lì lợm để làm hại cái tốt. Với người tốt, ngoài tinh thần chính nghĩa, còn cần một bản lĩnh, trí tuệ, hiểu biết… Hiểu kẻ thù, còn phải hiểu cả luật pháp… Không có sự “trợ giúp pháp lý” của Thổ thần, Tử Văn sẽ khó thắng kẻ gian manh, quỷ quyệt ấy. Sau nữa, truyện là một khát vọng công lý: Mong muốn các quan tòa trên dương thế cũng được như Diêm Vương!

Hình tượng Diêm Vương này khác hẳn trong quan niệm trào tiếu dân gian.

Là kết tinh của cuộc sống phồn thực, sống động, khỏe mạnh, tiếng cười dân gian với muôn vàn sắc thái vang lên từ xã hội nông thôn vốn tĩnh lặng. Những cái gì xấu đều bị đem ra làm trò cười bằng cách bị thông tục hóa, phàm tục hóa. Truyện “Tao thèm quá” kể về ông vua dưới âm phủ nhưng là một cách bóng gió nói về ông vua trên dương thế. Oan hồn một con lợn bị giết xuống âm phủ kêu với Diêm Vương. Ngài phán nỗi oan ức của nhà ngươi thế nào, hãy nói rõ đầu đuôi.

Nó “trình bày” rằng bọn đồ tể chọc tiết, cạo lông, phanh thịt, chặt ra từng miếng rồi cho vào chảo mỡ đang phi hành, tra thêm mắm muối… Diêm Vương vội ngăn lại: “Thôi, thôi, đừng nói nữa… Tao thèm quá!”. Tiếng cười bật ra làm lộ rõ nguyên hình một công lý giả dối: Diêm Vương chuyên làm cái việc “xử án” những kẻ có tội nhưng chính cái sự “thèm (ăn) quá” đã lật tẩy bản chất giả dối chẳng có gì là công tâm liêm khiết chính trực cả. Chỉ có tiếng cười mới đủ sức mạnh giật phăng cái mặt nạ giả tạo để trơ ra bộ mặt thật thảm hại: “Tao thèm quá!”.

Thật, ảo Diêm Vương! -1
Tranh cổ Phật giáo “Diêm Vương xử án”: Quan niệm “ác giả ác báo”.

Có truyện lộn trái cả một quan niệm sống rất đáng phải xem xét lại một cách nghiêm túc, không chỉ ở ngày xưa, mà ở cả hôm nay. Một anh nọ lúc sống công nợ nhiều, chết xuống âm phủ vẫn chưa yên, bị các chủ nợ đâm đơn kiện xuống Diêm Vương. Ngài tra sổ thấy quả vậy, bèn bút phê bắt anh ta hóa kiếp làm trâu cày trả nợ. Anh ta một mực van xin: “Con vay có mười quan tiền, nhưng chúng nó ác lắm, bắt lãi mẹ đẻ lãi con, rồi nhập vào vốn, con trả bao nhiêu năm trời mà vẫn chưa hết. Thế nên Ngài hóa con làm kiếp trâu, cũng không thể trả hết được. Phải cho con làm bố chúng nó, may mới trả hết nợ được!”.

Diêm Vương ngạc nhiên không hiểu. Anh ta mới giải thích rằng: “Làm kiếp trâu thì có hạn, còn làm bố chúng nó thì chẳng những phải lo lắng cho chúng suốt đời, khi chết, có bạc vạn, bạc triệu cũng để lại cho chúng cả. Lại còn nỗi, mỗi khi chúng nó bóp hầu bóp họng người ta, họ cứ gọi thằng bố chúng ra mà chửi. Có như vậy, may ra con mới trả hết nợ…”!!!

Câu chuyện có tên thật đích đáng “Làm bố chúng nó mới trả hết nợ”. Chỉ mượn hình tượng Diêm Vương làm điểm tựa nhưng để nói lên bao ý nghĩa cơ bản của cuộc sống. Là tiếng cười giễu vang lên những dư âm đắng đót rất thực tế với nghịch lý: đời cha mẹ quá khổ vì con cái. Nhưng xét đến cùng cũng là tại chính các bậc bố mẹ, không sống cho mình mà chỉ chăm chăm sống cho con. Tự nguyện làm thân “trâu” cho con, chăm lo, phụng dưỡng con một cách mù quáng. Tại sao không để con “kéo cày” mà các bậc bố mẹ cứ phải kéo thay?

Một minh triết giáo dục gióng lên tiếng chuông cả xã hội phải thay đổi cách nhìn nhận, cách sống. Một truyện cười nhưng là cả một bài học lớn về lối ứng xử, giáo dục: phải từ bỏ lối “bao cấp”, bao bọc, o bế con cái để rồi tự mình làm khổ mình mà con cái thì ỷ lại. Trong khi đó, giáo dục hiện đại thời cách mạng 4.0 đang kêu gọi phải hướng giáo dục theo lối con người phải tự làm chủ chính mình, có trách nhiệm với chính mình để phát triển cá tính, tự tin, bản lĩnh.

Về chủ đề này nhà thơ dân gian Nguyễn Bảo Sinh, có thể chịu ảnh hưởng từ truyện cười trên cũng nêu lên một triết lý đáng suy ngẫm: “Con ta không phải của ta/ Tai họa của nó mới là của ta/ Của chìm của nổi trong nhà/ Của ta rồi sẽ lại là của con”. Trời đất ơi, thế bố mẹ có “của” gì cho riêng mình? Hạnh phúc của họ ở đâu?

Như vậy, về bản chất, Diêm Vương là nhân vật kỳ ảo, không thật nhưng đi vào văn chương lại nói được rất thật bao nhiêu điều về cuộc sống!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).