(Nhân đọc tập thơ “Thầm”… của nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh, NXB Hội Nhà văn, 2021)

“Thầm...” của ông giáo Nguyễn Đức Hạnh

Hình như ở đâu đó, vào một vài lúc nào đó, ta đã nghe: Trên tỉnh Thái Nguyên có một ông học vị học hàm khá cao, là PGS - Tiến sĩ, là nhà thơ, nhà lý luận phê bình. Ông viết văn, làm thơ, dạy học… mà như một ẩn sĩ. Thế mà gần đây, thơ ông lại xuất hiện cũng nhiều nhiều trên Facebook, khiến cho bạn đọc gần xa tò mò ông ẩn sĩ này là ai.

Tôi không bất ngờ lắm khi có mấy người đọc thơ ông giáo ẩn sĩ ấy, rằng:

- “Ở đây có một nỗi buồn
Vỡ như sương sớm lá luôn dỗ dành
Ở đây Đom đóm dịu dàng

Nửa đêm thắp sáng nửa bàn tay run”/ “Cố hương thơm sắn đồi guột nướng vàng/ Cùng lá tre lang thang ngõ cát/ Vết chân em nở hoa dịu dàng/ Rủ em lên đây tu lang thang/ Sách cổ chùa cổ lòng trong trong mới/ Kéo sương sương đắp chăn cho mơ/ Quả thông rụng thơm thơm trang cuối…”

Mấy người đọc thơ Nguyễn Đức Hạnh này hào hứng bình tán, và hầu như ai cũng có chung nhận xét: Chưa hiểu hết ý tứ của các chữ, các câu trong đoạn trích, nhưng thấy rất mới lạ mà vẫn quen quen, thân gần.

“Thầm...” của ông giáo Nguyễn Đức Hạnh -0
Nhà thơ, PGS-TS Nguyễn Đức Hạnh trong lễ nhận danh hiệu Nhà giáo ưu tú. 

Đọc tập thơ “Thầm…” mới xuất bản đầu năm nay của PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh - người được gọi là ẩn sĩ ấy, tôi thấy dường như trong khuôn thức không dài của mỗi bài đều gây cho mình một ý nghĩ là: chúng như được viết ra liền một hơi, nhanh và gọn. Dường như bài nào cũng gợi vẻ thanh thoát, có bài có vẻ kì khu trong chữ với nghĩa, nhưng dấu ấn của kĩ thuật không mấy rõ. Viết thế, là phần bản năng nổi trội hơn chăng?

Theo tôi, nếu quả có thế, thì sự nổi trội này đã chứng tỏ một thành công mới của nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh rồi. Chẳng hạn, bài “Nhang cháy đi tìm trầm hương”, bắt đầu là:

“Sông đục quá lấy giần sàng mà lắc/ Đãi một đời được một chút trong trong/ Đường gặp bão đã toan đi tắt/ Qua cơn mê vấp nỗi ròng ròng”

Mở đầu này có sức gợi, nhưng vẫn có gì chơi vơi. Hay nói đúng hơn, chính cái chơi vơi “trong trong” với “ròng ròng” ấy đang dần đưa người đọc vào cõi suy tưởng. Rồi giữa mạch thơ tâm sự có giọng thầm thì chiêm nghiệm này, bỗng bật ra câu hỏi: “Đau mà im lặng thì còn đau không?”, rồi kéo theo là một thức nhận:

“Người ngã thơ cũng ngã/ Sẹo người lành mau, sẹo thơ còn lâu”

Lối thơ chuyển ý chuyển câu có vẻ như bất ngờ, tùy hứng này của tác giả “Thầm…” khiến người đọc lúc đầu ngỡ ngàng, nhưng đọc được dăm mười bài rồi thì thấy thú vị.

Viết liền hơi một bài và cả mấy bài, mà không vấp, hơn thế có sự liên kết, phát triển về ý tứ, chủ đề tự nhiên, ấy là thơ Nguyễn Đức Hạnh ở tập “Thầm…” này. Điều đáng chú ý là chủ đề của tập thơ này khá rộng và luôn ở thế có thể mở thêm, viết thêm. Thế là tác giả đang ngổn ngang phải không? Đúng là ngổn ngang, trong cảnh trí cảnh quan đã đành, mà ngổn ngang, thậm chí là không giấu được sự quả đoán của trí óc và cả sự mê hoang trong cõi tâm trạng nữa. Một ngày “Chạm mùa đông” kia, nhà thơ đang tự nhìn nhận, đang đếm ngày đếm lá đếm cây theo mưa theo nắng, bỗng buông ra một giật mình:

“Vài bạn hữu bay đau cả gió/ Thêm một người nhu nhú xuân sang”

là mênh mang buồn, cái buồn của tuổi già muôn thuở, lại cũng là sự ấp iu một hi vọng đang đến…, đang như thế, thì lại viết luôn:

“Bạc đầu châm lửa câu thơ/ Đốt lên pha một giấc mơ thay trà/ Rót mời em rót mời hoa/ Giật mình có mấy hồn ma uống cùng”

Có thể nói, cái trường thơ, phổ thơ của Nguyễn Đức Hạnh là khá rộng và rất gần với đời sống bình thường của mọi người mỗi ngày như sông suối cây lá nắng mưa… và hoa cỏ rơm rạ hằng ngày quanh ta.

Rộng thế, về đủ chuyện, như thơ với đời, tình yêu đôi lứa, tình nhân, tình quê tình bạn, rồi sự khốc liệt của thiên nhiên ở miền Trung nước Việt, sự vạm vỡ giàu có của văn hóa Việt từ những gian truân như Trời định như do cả sự ứng xử tàn tệ thiển cận của con người… Nhưng dồn tụ lại, thơ trong tập “Thầm…” là thơ về nỗi đau nhân thế mà thôi!

“Thầm...” của ông giáo Nguyễn Đức Hạnh -0
Bìa tập thơ “Thầm...” của nhà thơ Nguyễn Đức Hạnh. 

Nỗi đau ấy đã bộc lộ qua các câu hỏi như: “Xếp đá cuội bên gốc cây cùng ngóng/ Có tri âm nào trong hương sắc tinh khôi?” và: “Hoa tre nở mát tay cầm/ Ai hay tre khóc âm thầm vì giông?” rồi: "Áp má vào cây nghe quả rụng ngày xưa/ Em cùng đò đắm vào thương nhớ cũ/ Ta hóa thạch một mình/ Người khảo cổ đến chưa?”.

Và nhiều khi, nỗi buồn thương hoang hoải như không thể nào kìm nén được cũng lại hiện ra qua một phiến cảnh rất thực mà cũng rời xa đến khó tin:

“Đường mòn về đâu hun hút đại ngàn/ Có em bé còng lưng cõng cặp sách/ Chân lon ton về phía mênh mang/ Nhìn theo mãi rồi tự nhiên muốn khóc/ Bản xa xôi ánh lửa thở dài…”.

Cái là lạ quen quen trong thơ Nguyễn Đức Hạnh ở tập “Thầm…” này còn được tập trung thể hiện trong bài thơ “Nước mắt chó” thật bạo liệt:

Sáu chó con chưa mở mắt/ Tự nhiên sủa váng nhà chạy quàng chạy xiên/ Ông lão bảo chó điên/ Quẳng cả ổ xuống ao làm mồi cho cá/ Chó mẹ tơi tả/ Ngậm từng đứa con lên tha đặt giữa nhà/ Phủ phục lông ướt ròng ròng nhìn ông lão/ Ngửa cổ há mõm mà không kêu đau/ Giọt bàng hoàng biết chảy về đâu/ Thằng cháu 7 tuổi vai rung bần bật/ Nước mắt chảy thầm có mặn như nhau?/ Ông lão hút thuốc lào ho sằng sặc/ Nhúng đầu vào vại nước thật lâu”.

Có người kêu lên kinh hoàng. Có người bảo: như là truyện ngắn hiện thực phê phán trước năm 1945. Có người mắt hoe đỏ nói chậm rãi: thơ đích thực đấy, nó gợi nhiều ý nghĩ mà…

Bài này không thể trích đoạn trích dòng, tôi chép ra từ cả trang 35. Đúng là thơ “Thầm…”, của ông giáo Hạnh trẻ khỏe như trai làng thuở nào, rất bạo liệt mà đầy tràn niềm thương cảm xót xa. Rồi ngẫm thêm, ta thấy là chính chữ và câu thơ tỉnh táo ở đây đã đánh thức cái lương tâm lương tri người đời. Ông già lo lắng hốt hoảng đáng thông cảm hơn là đáng trách. Bài này gợi ta nhớ đến một dây truyện ngắn cũng đã gợi lòng trắc ẩn của Nguyễn Đức Hạnh. Vâng, tác giả tập thơ này cũng sáng tác truyện và còn viết chuyên luận chuyên khảo văn chương nữa. Có phải sự từng trải trên nhiều thể văn, nội dung văn, nên ông mới có bài “Nước mắt chó” cô đúc thế sự thế này chăng?

Thỉnh thoảng, trong mạch thơ buồn đau cay xót với những dòng nữa, như “Bóng em giờ thôi ríu ran/ Chưa trôi đến biển đã than ngậm ngùi/ Tóc thơ va nắng rực ngời/ Đừng đốt nữa/ Thơ thua rồi/ Áo cơm”… và “Tiền bạc như lũ gà con/ Vừa nghe khách đã lon ton trốn rồi/ Bạn cũ rơi rụng đôi người/ Đã toan níu/ Ngượng/ Đành trôi theo trời/ Soi gương gương rạn mất rồi/ Nhìn mình ngỡ chú hề cười rưng rưng/ Pha trà mời mưa ngập ngừng/ Cây vườn cũng chán/ Lừng khừng hát ru…”. Ta dễ nghĩ là thơ tâm trạng như thế, viết nữa, thì trôi đến đâu?

Nhưng tôi đã nhặt được mấy câu này: “Nửa đêm ra đường nghe cây/ Mới hay kẻ ngốc vạn ngày là ta”

Tôi đã bồi hồi với tác giả, và nhiều người nữa khi đọc mấy câu “Ngẫu khúc sông Hồng” sau đây: “Giữa đêm biên ải bơ vơ/ Cắn miếng Lịch sử rồi lơ ngơ về/ Bỗng nghe lồng lộng bốn bề/ Bóng đất nước động sơn khê bi hung”

Thơ của Nguyễn Đức Hạnh, cũng như ý tình của mọi người, một khi dựa vào dân tộc mà neo trụ rồi phát triển, chắc lại có thêm thành công.

Quả thực trong tập thơ “Thầm…”, người ta đang thấy hiện rõ dần hình ảnh một người đàn ông mang nỗi buồn đau tiếc nuối mà không hề chán nản. Người này luống tuổi nhưng vẫn có nét phong độ trẻ trai tự nhiên, đôi khi bồng bột đáng quý, nhất là khi anh/ ông viết về một nữ sĩ tài danh sau nhiều ngày đọc thơ của cô và ngắm những bức tranh cô vẽ, rồi cũng vẽ theo, rằng:

“Vẽ em bằng tưởng tượng/ Em là thủy tinh sôi ngàn độ/ Giấc mơ pha lê…” Rồi nhà thơ ngay thẳng, thật thà, (dẫu có chút điệu đà thì cũng quý) mà hạ bút thật gọn:

Ước mình hóa khung tranh làm bằng song/ Dẫu một mai khung vỡ mặn một mình”

Có lẽ những ai từng yêu mến các nữ sĩ vẽ tranh, cũng sẽ cảm ơn người viết ra hộ mình điều ước mà họ cũng đã thì thầm nhiều lần này.

Ông giáo Hạnh còn là Chi hội trưởng Chi hội Thơ của Hội Văn nghệ tỉnh Thái Nguyên - nơi có trữ lượng văn hóa văn chương thật dồi dào. Ông đang viết, nên xin dừng bài này ở đây mà không có lời kết nữa.

Nguyên An

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).