Tết của bố tôi

Mỗi khi nhắc tới bố tôi, tôi thường nhớ tới những cái Tết của thời thơ bé đã xa lơ, xa lắc, cũng như nhớ tới những cái Tết trong quá khứ thì hình ảnh bố tôi lại hiện ra thật thương mến và gần gũi biết bao. Nếu như những cái Tết đó có trăm nghìn hương vị, thì bố tôi là một hương vị đặc biệt chẳng thể thiếu được và không bao giờ mất đi trong ký ức non tơ, bộn bề của tôi, để mỗi khi chạm vào, lòng lại khắc khoải đến nghẹn ngào.

Em gái tôi nói, bố tôi là người thích Tết nhất trong nhà. Có phải vì những mùa xuân cuộc đời ngắn ngủi mà bố tôi lại trân trọng những cái Tết đến lạ kì, ngay cả khi bố tôi chưa mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, hay vì gia đình tôi đã rời nơi chôn nhau, cắt rốn để đến sinh nhai, lập nghiệp nơi đất khách, quê người mà bố tôi luôn mong Tết để gia đình được sum họp, đoàn viên.

Quanh năm, suốt tháng tôi đi làm ở huyện, còn em gái thì lấy chồng, một nách hai con dưới Thủ đô, có về thăm nhà cũng chỉ tranh thủ trong chốc lát. Sau này, bố tôi mất rồi, có lúc tôi ân hận tự trách mình, sao cứ phải đi xa nhà suốt như thế để làm gì, mười lăm năm đi làm xa, số lần tôi về thăm nhà chỉ đếm được trên đầu ngón tay, và khi tôi về gần thì bố tôi lại đi xa, rất xa, không biết bao giờ mới có thể gặp lại trong lục đạo luân hồi.

2.jpg -0
Bức ảnh kỷ niệm của nhà thơ Hoàng Anh Tuấn chụp cùng bố.

Tôi thấy Tết bắt đầu về khi bố tôi chuẩn bị cái chổi lông gà để quét mạng nhện. Nếu lông gà đã mòn vẹt đi, thì bố tôi sẽ dặn một ông già bán chổi lông gà và phất trần từ vài hôm trước để mang đến một cái chổi khác thay thế. Cái chổi có cán tre thật dài, buộc một túm lông gà màu mật mía trên ngọn. Bố tôi cầm cây chổi, lùa vào từng góc nhà và xoay tít trong tay. Những cái mạng nhện bám đầy bụi sẽ bị cuốn hết vào túm lông gà như người ta làm kem bông ở hội chợ. Bố bảo quét dọn là để khai quang nhà cửa sau một năm cũ sắp qua và cũng là để khai tâm lòng mình đón một năm mới sắp tới.

Bố dặn, này đừng có dùng chổi mà miết, mạng nhện sẽ bết luôn vào tường vôi đấy, nghe chưa. Vâng, tôi lơ đễnh đáp và chạy lăng xăng đi nhặt những con nhện bị rơi xuống từ những cái mạng nhện để bỏ vào cái túi ni lon trên tay. Những con nhện bị tóm sống, sẽ không còn cơ hội trèo lên tường mà giăng tơ nữa, nên phải rất lâu sau mới có mạng nhện. Tôi cậy rằng tôi có bố thì cần gì phải quét mạng nhện, nhưng tôi đâu ngờ rằng có một cái Tết tôi vừa quét mạng nhện vừa quệt nước mắt. Và còn rất nhiều những cái tết sau này, chổi lông gà có quét đi được lòng tôi trống trải nóc nhà và nỗi buồn giăng đầy tơ nhện?

Bây giờ cứ mỗi cuối năm quét mạng nhện, tôi lại nhớ bố tôi, nhớ làn điệu chèo "Con nhện giăng mùng" mà bà tôi hay hát trên võng đay dưới một đêm trăng sáng, nhưng từ khi bố tôi không còn thì làn điệu chèo nở giữa môi trầu cắn chỉ cũng tắt. "Nhện hời là cái con nhện hỡi, chứ mày đi cái phương lai nào?". Lời bà tôi hát năm nào chỉ còn là cơn gió rét mướt thổi qua cánh đồng tháng mười gầy trơ gốc rạ. Cánh đồng tuổi thơ tôi, có ai đốt nhớ thương mà bỗng dưng cay mắt.

Mẹ tôi đun một nồi nước lá trầu, lá quế để bố tôi lau bàn thờ. Hương quế đại ngàn, hương trầu châu thổ hòa quyện nhau ngấm vào bàn thờ gỗ lim đen bóng sừng trâu. Hương ngũ quả thơm thảo vườn quê mẹ bày, hương nhang bài ngan ngát chợ làng bố thắp rẽ tấm màn nhiễu đỏ bay vân du trong ngôi nhà năm gian trầm mặc. Lòng người chưa kịp tắm nước lá mùi già đã muốn thanh tịnh bay lên cùng với những làn hương tháng Chạp. Trong khói nhang hư ảo tôi còn nghe thấy mùi thơm của nải chuối như ngón tay Quan Âm Bồ Tát, của quả táo như má ửng Thị Mầu, của quả bưởi như trăng rằm mười sáu, của quýt cam thập thò như mắt trẻ.

Sau khi quét dọn nhà cửa xong, thế nào bố tôi cũng bắt đầu là quần áo. Những chiếc áo sơ mi kẻ ca rô đã bạc sờn, hay cái quần âu vải thô đã cũ kĩ có vài mụn vá được mẹ tôi khâu mạng lại rất khéo, phải tinh mắt lắm mới nhìn thấy. Tất cả đám âu phục lỗi mốt đó được giặt giũ sạch sẽ, treo thẳng thớm trong ngăn tủ mùi thơm sực băng phiến lẫn với mùi ẩm mốc của thời gian. Bố lôi hết quần áo ra phản và là từng chiếc một bằng sự cẩn trọng và tỉ mỉ hiếm có. Bố đeo cặp kính lão gọng vàng trễ mũi săm soi miết thành từng đường ly thẳng đét. Bố dạy quần áo phải có ly như lòng người ngay thẳng, cũ, rách cũng được nhưng phải sạch và thơm, hoặc cũng có khi bố trách thằng này mặc quần áo hại quá, chất vải còn tốt thế này cơ mà.

1.jpg -0
Chợ Tết ở vùng cao.

Tôi nhớ đến những ngày giáp Tết của một năm chín mươi nào đó, thuở tôi mới ba tuổi theo bố lên ở tập thể cơ quan. Mỗi tối, sau khi hết giờ làm, bố lại đi làm bảo vệ, soát vé thuê cho rạp chiếu bóng Yên Ninh. Bố lái xe đạp đèo tôi ngồi sau trôi trên dãy phố nhỏ của thị xã miền núi nghèo. Ánh đèn vàng vọt hắt ra từ những nhà trên phố càng làm cho mặt đường mấp mô chạy về phía lòng đêm thăm thẳm. Gió bấc rét cắt da và mưa bụi bay đầy trời. Tôi cứ tha thẩn chạy ra, chạy vào nhìn người ta kéo nhau vào rạp xem phim. Bố dặn, con chịu khó chờ bố làm xong thì mình sẽ có đủ tiền mua áo mới và bánh chưng nhé. Tôi ngoan ngoãn gật đầu. Có đêm tôi ngồi ngủ gục trên ghế cuối rạp bị muỗi đốt cho sưng cả chân, nhưng tôi chẳng thấy đau.

Trong giấc mơ thơ bé, tôi gặp những tấm vé xem phim cứ bay chập chờn trước mặt. Tôi đuổi theo bắt được một tấm rồi xé ngay một góc. Bị ngã tôi đứng dậy phủi tay đuổi tiếp. Khi đã xé tấm vé cuối cùng, tôi thấy mình được diện áo mới còn thơm mùi hồ và ăn no bánh chưng mẹ vừa vớt có nhân đỗ xanh, thịt lợn rất dày. Bố ơi, bố chở con đi qua tuổi thơ của con, nhưng tuổi già của bố, con đã chở bố được mấy lần? Giờ vắng bố con thấy lòng chông chênh quá, bố ạ. Dãy phố ngày xưa dẫu có dài đến tận chân trời thì bố cũng không thể cùng con đi hết cõi người này phải không bố. Con xuống xe và lầm lũi bước một mình nhưng con chưa bao giờ đầu hàng hay gục ngã, còn bố, bố đạp xe từ bóng tối về ánh sáng, từ mùa đông sang mùa xuân, từ khổ đau đến hạnh phúc, thong dong trong cõi Niết bàn.

Bây giờ còn một việc cuối cùng rất quan trọng là mua cành đào chơi Tết. Cây đào là tinh hoa ngũ hành, xua đuổi bách quỷ, hoa đào là biểu tượng của mùa xuân Bắc Việt, cắm một cành đào là rước xuân vào nhà, khi ấy Tết đã về ngoài ngõ. Chưa năm nào nhà tôi thiếu vắng hoa đào, dù đầy đủ các loài hoa khác như lọ cúc vạn thọ thành kính trên bàn thờ, lay ơn kiêu sa trên tủ chè, thược dược và violet cùng khoe nhan sắc trên bàn uống nước. Cành đào Tết phải do chính tay bố tôi lựa chọn và trả tiền chứ không ai được làm thay, kể cả khi chúng tôi đã lớn.

Bố không chọn một cây đào thân to, thế đẹp, rêu mốc xù xì mà chỉ chọn một cành đào vừa phải có đủ cả nụ, hoa và chồi để cầu mong một năm mới nảy nở, sinh sôi. Đó là cành đào núi cánh mỏng, sắc phai mà người bán thường là một em bé, hay đàn bà từ trong bản mang ra. Cành đào ấy sẽ được cắm trang trọng trong bình gốm Giang Tây men rạn cũng chính tay bố tôi đã mua từ nhiều năm trước. Gió Đông sẽ chầm chậm mở từng cánh thư hoa đào báo tin xuân trong dìu dặt chầu văn hay rộn rã trống chèo từ chiếc đài cát sét quay băng. Này là yếm thắm, lưng xanh, kìa là khăn chầu, áo ngự. Những làn điệu dân ca gọi bố về quê nhà Nam Định.

Bố ạ, có một năm nhà mình không mua cành đào, và còn rất nhiều năm sau nữa con sẽ đi mua cành đào thay bố. Hình ảnh bố đầu đội mũ bê rê, cổ quàng khăn len, người khoác áo dạ, chân xỏ giầy da, tay giơ cao một cành đào chen giữa dòng người chợ hoa xuân trong ngày cuối năm dù mưa phùn hay nắng ấm sẽ không bao giờ phai mơ â trong ký ức con. Những ngày cuối năm xa xôi con còn thấy rõ rệt như vừa mới hôm qua. Chợ hoa bên sông Hồng sắp họp và sông Hồng sẽ nở hoa, nhưng bố đã hóa thành ngọn gió bay trên cõi người, bay trên tháng Chạp, bay trên dòng sông hoa đào.

Tôi sinh ra ở quê vào mùa xuân và thường trở về làng vào mỗi dịp Tết. Sự trở về ấy có thể bằng những chuyến đi, bằng những trang viết và có khi chỉ bằng đôi chân của ký ức. Bà tôi sinh ra ở quê và sống suốt đời ở làng. Bố tôi, mẹ tôi, em tôi và nhiều người làng tôi nữa cũng sinh ra ở quê, phải đi lập nghiệp xứ khác nhưng trong tim vẫn mang một mảnh hồn làng để mỗi khi lòng mưa phùn, gió bấc lại làm một cuộc hành hương trở về bản quán. Rồi tôi sẽ như bà tôi, như bố tôi... ở lại làng, không bao giờ đi nữa. Tết và mùa xuân phía sau lưng luôn ngóng đợi tôi về...

Hoàng Anh Tuấn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).