Tạo ra huyền thoại

Từ “huyền thoại” nay đã trở nên khá cởi mở và bình dân. Huyền thoại không nhất thiết còn là câu chuyện “huyền hoặc” của thời xa xưa nữa, nó đã len chân đến hầu hết những ngõ ngách của cuộc sống với biên độ mở hơn rất nhiều: “huyền thoại bóng đá”, “di sản huyền thoại” là những cụm từ dùng rộng rãi, ở đây, tôi muốn nói đến “huyền thoại” về các nhà văn nổi tiếng.

Tôi nghĩ người mở đường cho những “huyền thoại” của những nhà văn hiện đại Việt Nam là Tản Đà. Tản Đà là một nhân vật rất quan trọng trong nền văn học hiện đại Việt Nam, là gạch nối giữa thời trung đại và hiện đại.

Trong công trình “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã đưa Tản Đà ở vị trí đầu tiên với một bài viết rất trang trọng, thành kính. Các nhà văn tiền chiến như Vũ Bằng, Nguyễn Vỹ… trong các trang hồi ký của mình cũng rất cung kính tôn Tản Đà ở vị thế “anh cả” của làng văn Việt.

Tài thơ văn của Tản Đà thiết nghĩ không cần nói nhiều nữa, nhưng cuộc đời và cách sống của ông cũng đầy chất huyền thoại. Một phẩm chất “ngông” rất nghệ sĩ được nhiều người kính nể và lưu truyền.

Về cách sống của Tản Đà, có lẽ điều đầu tiên là ông rất coi trọng sự ăn uống. Ông biến sự ăn uống trở thành một nghệ thuật cầu kì và điệu nghệ. Đã có rất nhiều câu chuyện về cách ăn uống kì khu của Tản Đà, ví dụ một con ngỗng ông chỉ ăn món tái và gan hấp, món cá thì rất coi trọng bộ lòng, uống rượu thì chỉ dùng be không dùng chai và trong bữa nhậu thì phải có một vài cái hoả lò (bếp than) đặt xung quanh mới thấy khoái thú.

Lúc Tản Đà còn sống, số người khen chê Tản Đà gần như ngang bằng nhau, chê kịch liệt nhất thì có thể kể đến Phạm Quỳnh trên tạp chí Nam Phong. Nhưng khi Tản Đả mất đi, người ta nhận thấy vai trò của Tản Đà rất quan trọng, nhiều tờ báo văn chương ra những số đặc biệt về ông và ngay trong năm nhà thơ mất (1939) có liền hai quyển sách viết về ông, đó là “Uống rượu với Tản Đà” của Trương Tửu và “Thi sỹ Tản Đà” của Lê Thanh.

Đặc biệt “huyền thoại” về sự ăn uống của Tản Đà được Nguyễn Tố kì công viết hẳn một quyển sách “Tản Đà thực phẩm” in năm 1944, sau khoảng chục năm được gần gũi, hiểu biết và thực hành sự ăn uống cùng với ông.

Từ trái qua: Cố nhà thơ Hàn Mặc Tử, Cố nhà thơ Tản Đà, Cố nhà văn Nguyễn Tuân.
Từ trái qua: Cố nhà thơ Hàn Mặc Tử, Cố nhà thơ Tản Đà, Cố nhà văn Nguyễn Tuân.

Sự đặc biệt của Tản Đà ở chỗ này, nếu các bậc hậu sinh như Thạch Lam, Nguyễn Tuân chẳng hạn chỉ cầu kì về cách ăn uống thì Tản Đà còn tự sáng chế ra những món ăn chưa từng có như “nước mắm sườn”, “ốc nướng vỏ sò”, “hoa đại ăn ghém”, “rau sắng nướng”… Thậm chí ông còn có ý định sản xuất và kinh doanh những sản phẩm mang tên mình như “mắm Tản Đà, “ớt Tản Đà”…

Khi Tản Đà viết trong “Khối tình con”: “Muốn ăn rau sắng chùa Hương/Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa/ Người đi ta lại ở nhà/ Cái dưa thời khú, cái cà thời thâm”, thì bà Song Khê, em ruột nhà thơ Tương Phố liền gửi cho Tản Đà ít rau sắng kèm theo mấy lời: “Kính dâng rau sắng chùa Hương/ Tiền đò đỡ tốn, con đường đỡ xa/ Không đi thì gửi lại nhà/ Thay cho dưa khú cùng là cà thâm”.

Tuy trọng ăn uống như vậy nhưng Tản Đà lại rất khí khái, ông quyết không làm những việc mình không thích hoặc lương tâm bị cắn rứt. Ví thử như khi thấy ông anh rể mình túng thiếu quá, người em vợ Tản Đà là Nguyễn Tiến Lãng khi ấy đang làm thư ký cho Toàn quyền Đông Dương René Robin muốn giới thiệu ông làm trong văn phòng tu thư trong Phủ toàn quyền để ông có tiền trang trải cuộc sống nhưng Tản Đà kiên quyết từ chối. Khi biết chuyện Tản Đà từ chối lời đề nghị làm việc cho Phủ toàn quyền, nhà văn Khái Hưng đã rất cảm kích, liền tặng Tản Đà một món tiền kha khá để nhà văn tiêu dần, nhưng Tản Đà sau đó đã làm ngay mấy chầu rượu tưng bừng đến nhẵn túi!

Là một người ham sống, ham chơi nhưng Tản Đà cũng có lúc chán đời đến mức tịch cốc để chết nhưng không thành. Gần cuối đời, lúc túng quẫn quá ông đã mở một phòng xem lí số và dạy chữ Nho nhưng không thành công. Cái chết của thi sỹ cũng do ông đi uống rượu ở nhà bạn, dọc đường về nóng bức quá liền nhảy xuống đầm tắm, bị cảm vài hôm rồi mất!

Một nhân vật cũng không có ít huyền thoại xung quanh đời mình là Hàn Mặc Tử. Ngoài là một nhà thơ với một sức sáng tạo mãnh liệt, việc mắc bệnh nan y và mất sớm cũng góp phần dựng lên huyền thoại Hàn Mặc Tử.

Cách đây gần chục năm, tôi vào Quy Nhơn và ra nhà thương Tuy Hoà thăm nơi Hàn Mặc Tử đã từng chữa bệnh. Tôi đã rất ngạc nhiên vì nhà thương Tuy Hoà có lẽ là bệnh viện duy nhất trên cả nước bán vé tham quan cho khách du dịch. Vì sao vậy, vì nơi đây có nhà thơ Hàn Mặc Tử đã chữa bệnh và mất ở đây. Trong lịch sử y khoa, có lẽ Hàn Mặc Tử trở thành bệnh nhân phong nổi tiếng nhất cả nước, thậm chí cái giường nơi nhà thơ đã từng nằm điều trị giờ đã thành kỉ vật quan trọng. Cả khu mộ táng và cải táng trở thành địa điểm thu hút khách du lịch, đặc biệt có nghệ sĩ còn dựng lều ngay cạnh mộ ông để hành nghề và mưu sinh.

Huyền thoại về Hàn Mặc Tử chủ yếu liên quan tới quãng đời bị bệnh của ông và những người tình trong mộng. Người ta đã thống kê rằng, thi sĩ có ít nhất năm người tình, hoặc là người yêu ông hoặc là người ông yêu. Nào là Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình, Ngọc Sương, Thương Thương… người nào đi qua cuộc đời Hàn Mặc Tử dù ngắn hay dài đều khiến thi sĩ có những vần thơ để lại, thậm chí trở thành kiệt tác, ví dụ như với Hoàng Cúc và bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”.

Cuộc đời đau khổ và những người tình của Hàn Mặc Tử đã trở thành một đề tài được tranh luận trong một thời gian dài và có nhiều tác phẩm nghệ thuật viết về nó, thậm chí việc công bố những tác phẩm của ông đã khiến những người bạn thân của Hàn Mặc Tử kiện nhau ra toà, đó là cuộc tranh luận gay gắt giữa Trần Thanh Mại và Quách Tấn về di cảo của ông.

Con dốc dẫn lên mộ Hàn Mặc Tử giờ được “đặt tên” cho một trong những người tình trong mộng của ông: Mộng Cầm. Ngay cả bệnh nhân nằm cùng Bệnh viện Tuy Hoà với ông, Nguyễn Văn Xê cũng viết hồi kí về ông… Cuộc đời ngắn ngủi và đau thương của thi sĩ bỗng chốc trở thành huyền thoại, người ta nâng niu, gìn giữ mọi cái liên quan tới ông và thậm chí một số địa phương đã từng tranh cãi để có được vinh dự là nơi an nghỉ cuối cùng của ông.

Một người cũng có nhiều “huyền thoại” và chất ngông của nghệ sĩ là Nguyễn Tuân. Tôi thì tin rằng Nguyễn Tuân ít nhiều ảnh hưởng phong cách của bậc đàn anh Tản Đà, nhất là trong việc ăn uống. Nguyễn Tuân sành ăn ra sao, khó tính thế nào đã được người ta truyền tụng trong rất nhiều bài viết, câu chuyện. Và cũng giống như Tản Đà, một người bạn thân của Nguyễn Tuân là Tô Hoài đã viết hẳn một cuốn sách hồi kí với nhân vật trung tâm là Nguyễn Tuân. Tô Hoài đã miêu tả chân dung Nguyễn Tuân rất sinh động và hấp dẫn từ sinh hoạt đời thường, ăn uống, cá tính.  Cuốn “Cát bụi chân ai” đó cũng là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của đời văn Tô Hoài.

Bây giờ, thỉnh thoảng ta vẫn bị những câu chuyện từ huyền thoại về cách ăn uống của Nguyễn Tuân ảnh hưởng, ví dụ ăn phở sao cho ngon, uống rượu sao cho quý và cốt cách người nghệ sĩ cần phải thế nào. Nguyễn Tuân đã trở thành hình mẫu cho một kiểu chân dung văn nghệ sĩ, cũng giống như thứ văn cầu kì, trau chuốt đặc trưng của ông.

Một câu hỏi đặt ra, nhà văn tự tạo cho mình những huyền thoại hay người đời xây dựng lên. Tôi nghĩ là cả hai. Chỉ những nghệ sĩ lớn và có cá tính độc đáo mới có thể tạo dựng cho mình những huyền thoại, những người như Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Nguyễn Tuân là trường hợp kiểu đó. Tản Đà thậm chí còn tuyên bố rằng: “Chơi cho biết mặt sơn hà/ Cho sơn hà biết ai là mặt chơi”.

Những cá tính mạnh mẽ, khác thường không chịu bó mình trong một cái khung chật hẹp, họ có một phẩm chất đặc biệt mà khi đi vào bất cứ đám đông nào cũng trở nên nổi bật.  Những người như Tản Đà hay Nguyễn Tuân rơi vào một tập thể nào đó, sự khác thường của họ mau chóng trở thành trung tâm của sự chú ý, dù người ta ưa hay không ưa.

Trường hợp như Hàn Mặc Tử tôi nghĩ hơi khác một chút. Thi sỹ rơi vào một hoàn cảnh khổ đau và bi thương và ở trong những tình huống đặc biệt, cuộc đời nhân vật rất dễ trở thành huyền thoại, nhất là một người có cá tính sáng tạo độc đáo như Hàn Mặc Tử.

Có thể Hàn Mặc Tử không có ý định tạo dựng ra huyền thoại cho riêng mình (ông quá khổ đau và không quan tâm đến chuyện ấy), nhưng người đời khi soi chiếu vào cuộc đời ông, họ không cưỡng lại được sự không thêm thắt những câu chuyện ly kì. Họ tạo ra những huyền thoại xung quanh ông để nó thêm lấp lánh, hấp dẫn, ví dụ như những người tình của ông, ai là người ông yêu thực, ai là nguồn cảm hứng cho những sáng tác của ông…

Huyền thoại luôn tạo ra dư vị, sức hấp dẫn với công chúng và cũng giống như các vị thần, người ta cần phải tạo ra các huyền tích để thiêng liêng và sáng láng. Và các văn nghệ sĩ lớn, đôi khi họ cũng được/tạo ra các huyền thoại để cuộc đời và tác phẩm của mình trở nên bất tử.

Uông Triều

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).