Tấm lòng người phụ nữ trong "Tiếng hát" của Đàm Khánh Phương

Vào dịp Rằm Tháng 7 năm 2014, tôi được anh Đàm Khánh Phương đọc cho nghe bài "Tiếng hát". Anh Phương đã ở tuổi thất thập, có thơ in từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước nhưng tính anh trẻ. Thơ và yêu đều trẻ. Tôi yêu thơ anh ở cái hồn cốt dân tộc, ở những tình nghĩa đậm đà. Bài "Tiếng hát", sau đó anh có gửi email tặng tôi, tôi thường lấy ra đọc và thấy, giá như thơ cứ viết như thế, thì người ta vẫn yêu thơ, vẫn tìm thấy ở thơ một điểm tựa, một năng lượng sống trong đời. 

Tiếng hát

Mấy đời bánh đúc…
Tháng bảy rằm này nhờ hương khói
Gửi về dưới chị mấy lời thưa
Từ khi vắng chị nhà trống dột
Sớm tối em về che nắng mưa

Ơn giời các cháu dần khôn lớn
Hai chị em ta sắp sửa bà
Thương em con nó càng nhớ chị
Sáng lại nét cười trong mắt cha

Bánh trái ai dè nỡ vướng xương
Lời xưa thầm trách kẻ hẹp đường
Trẻ thơ lỡ tuột vòng tay mẹ
Đã đến tay mình ai nỡ buông

Chị cứ bình yên ở dưới này
Cuộc đời như chiếc lá thu bay
Ru con chị hát ngàn năm trước
Nâng cháu giờ em xin đỡ tay.

Đàm Khánh Phương viết bài thơ này không phải do anh nghĩ ra, không phải do anh nghĩ rằng cuộc đời cần phải thế mới đẹp. Mà do đã có cái đẹp ấy, từ chính người vợ sau của anh trong đời thực. Tôi được biết nhiều lần chị chu toàn với công việc của anh, trân trọng bạn bè anh. Chị rất yêu anh. Nhưng dường như chị dành sự yêu thương nhiều hơn cho những đứa trẻ bằng tình cảm gộp vào của hai người mẹ. Và chị kính trọng, thân thiết với người vợ trước của anh, dù chị ấy đã mất mà như chị ấy luôn hiện diện.

Quan hệ con người luôn phức tạp, luôn có những mâu thuẫn lợi ích, lợi ích tình cảm và vật chất. Không kể thù địch, thì trong quan hệ bình thường, có hai mối quan hệ dễ đi đến thù nghịch. Đó là vợ cả - vợ lẽ "Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai" và dì ghẻ - con chồng "Mấy đời bánh đúc có xương/ Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng". Đây là một hiện tượng phổ biến. Phổ biến nhưng không phải tuyệt đối, không phải chân lý. Và nó cần thay đổi, thay đổi được. Thay đổi được vì đây không phải là bản chất của con người.

Cái bản chất nhất, sâu xa nhất trong tình cảm con người trước hết là lòng trắc ẩn. Và lòng trắc ẩn này càng lớn ở những người phụ nữ. Những "ma xơ" đã bỏ cả đời mình, thậm chí rời quê hương đến những châu lục khác để làm việc thiện, xoa dịu nỗi đau con người một cách vô tư, không vụ lợi, cho ta thấy rõ hơn điều đó.

Người mẹ kế trong "Tiếng hát" đến với ngôi nhà mới từ lòng trắc ẩn ấy. Chị quan niệm người vợ cả chưa mất, người ấy mãi còn; chị không tranh, không làm mất địa vị ấy trong lòng những người còn sống. Chị còn làm cho nó đậm lên. Chị có tranh là tranh cái sự chăm sóc cửa nhà, điều mà người quá cố không còn làm được. Sau một thời gian, làm tốt việc ấy, nhân Rằm tháng Bảy, chị mới báo cáo từ lý do đến mọi công việc. Lời lẽ nói năng chân thành, phải đạo: Tháng bảy rằm này nhờ hương khói/ Gửi về dưới chị mấy lời thưa/ Từ khi vắng chị nhà trống dột/ Sớm tối em về che nắng mưa.

Mối quan tâm hàng đầu của người phụ nữ là con cái. Cho nên sau khi nêu "lý do", người mẹ kế liền kể đến chuyện con. Sau con thì đến chồng, liệu anh ấy có vui? Sau chồng con thì đến cá nhân: Liệu mình còn hiện diện trong ngôi nhà này, trong tình cảm chồng con hay đã bị thay thế hoàn toàn bởi người mới? Có bốn câu, 28 chữ mà người mẹ kế đã trả lời rành mạch, thấu đáo cả ba việc rất lớn nói trên: Ơn giời các cháu dần khôn lớn/ Hai chị em ta sắp sửa bà/ Thương em con nó càng nhớ chị/ Sáng lại nét cười trong mắt cha.

Tuy thế, người vợ cả vẫn còn có thể những băn khoăn nhất định, kể cả chút ghen tuông, "ghen tuông thì cũng người ta thường tình", chết rồi vẫn còn yêu thì vẫn còn ghen. Khéo biết bao, tinh tế biết bao cái câu "Hai chị em ta sắp sửa bà". Đấy là một hiện thực, khi con cái đã lớn, sắp dựng vợ, gả chồng. Song, cũng như nhắc, như xin: Thôi, chị ạ, bây giờ ta là bà rồi, việc chính của bà là lo cho con, lo cho các cháu; các chuyện trần thế khác, xin hãy lùi sau, hãy bỏ qua hết!

Khổ thơ kết tiếp tục khẳng định điều đó: Cuộc đời như chiếc lá thu bay, không ai làm chủ được mệnh của mình, ai rồi cũng phải về dưới đó. Cái còn lại là người này nối người kia để yêu thương, nâng đỡ. Bài thơ kết thúc bằng một khẳng định sự truyền nối của đạo lý: Ru con chị hát ngàn năm trước/ Nâng cháu giờ em xin đỡ tay.

Sự cao cả; tình yêu thương chân thành là một bản chất của người phụ nữ Việt Nam đã được khẳng định sinh động trong bài thơ này. Và cũng khẳng định một triết lý: Tình yêu lớn có thể hóa giải được mọi mâu thuẫn trong gia đình, làm nên cái đẹp, cái cao quý trong cuộc đời! 

Nguyễn Sĩ Đại

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).