Tài nghệ châm biếm của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Châm biếm thâm thúy, mát mẻ sâu cay là một nét của mỹ học Nho gia. Đó cũng là một nét phong cách của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Một người bạn làm quan có tiếng liêm khiết đến tuổi về hưu, Trạng Trình liền có bài thơ tiễn bạn kín đáo nhắc nhở chung những vị quan: “Trời như có ý tốt ban cho mọi người tuổi thọ/ Thì hãy vì dân chúng mà nhổ vứt đi một lông tơ” (Tiễn An Điện về quê La Phù). Câu này có tích thời Xuân Thu, chủ thuyết phái vị kỷ là Dương Chu tuyên bố dù bớt một sợi lông chân mà có ích cho thiên hạ thì cũng không làm. Quan niệm ngược lại, Trạng Trình khuyên đừng như vậy mà hãy vì dân chúng dù có thể chịu thiệt thòi ít nhiều.

Châm biếm Nho gia thường mượn tích xưa để giễu hiện tại. Thơ Trạng Trình cũng nằm trong mạch này. Làm thơ vịnh cành liễu ông có so sánh “Cành mềm yếu, mảnh mai như lưng nàng phi trong cung nước Sở” (Liễu thi). Vua nước Sở thích con gái có lưng thon, thế là bao cung tần mỹ nữ nhịn ăn để có lưng thon nhỏ gọn. Có người vì thế mà chết. Về sau hai chữ “Sở yêu” để chỉ hình ảnh lưng con gái đẹp. Đối tượng châm biếm ở đây là sự nô lệ, a dua, chiều theo quan niệm người khác đến đánh mất mình.

image001.jpg -0
Tượng Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585).

Nét riêng của châm biếm Nguyễn Bỉnh Khiêm là thường đặt sự vật hiện tượng vào các cặp đối lập để những mâu thuẫn giữa chúng tự bật ra cái đáng cười. Ông mỉa những kẻ ít đọc sách nhưng lại hay chê bai người khác: “Ở đời không có ai đọc đến đứt ba lần dây buộc sách/ Mới đọc mấy hàng chữ mà đã cười cõi Thái sơ” (Cảm tác khi đọc Chu Dịch). Ngày xưa sách làm bằng thẻ tre cuộn lại nên phải lấy dây buộc. Truyền ngôn kể Khổng Tử đọc “Kinh Dịch” chăm đến mức đứt ba lần thay dây buộc sách mà vẫn thấy chưa đủ. Thế mà có kẻ mới đọc mấy hàng chữ đã tự cho mình biết hết.

Thơ ông giàu triết lý về thời thế: “Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười/ Có của thì hơn hết mọi lời/ Trước đến tay không nào thốt hỏi/ Sau vào gánh nặng lại vui cười/ Anh anh chú chú mừng hơ hải/ Rượu rượu giầu giầu thết tả tơi/ Người của lấy cân ta thử nhắc/ Mới hay rằng của nặng hơn người” (Vô đề 80). Các cặp đối: nhân nghĩa/ vàng mười; của/ lời; trước/ sau; tay không/ gánh nặng;... để bật ra một kết thúc bất ngờ mà hợp lý: “Mới hay rằng của nặng hơn người”. Bất ngờ ở chỗ nhân tình thế thái xuống dốc thảm hại; hợp lý ở chỗ các mối quan hệ vị của, vị lợi như thế thì tất yếu sẽ có cái kết như thế. Luôn lấy điểm tựa từ các mâu thuẫn tương phản nhà thơ mỉa mai: “Được thời thân thích chen chân đến/ Thất thế hương lư ngoảnh mặt đi” (Vô đề 58). Chúng vừa là những mâu thuẫn, chua chát thay, lại vừa là sự thật ở thế gian: “Vị thế gian, nhiều mặn lạt/ Đường danh lợi, có chông gai” (Vô đề 43).

Có trường hợp sự châm biếm bung phá thành tiếng cười sắc nhọn chĩa vào nhiều đối tượng: “Ở thế mà chi cười lẫn nhau/... Người hàng thịt nguýt người hàng cá/ Đứa bán bò gièm đứa bán trâu/ Bé vú thỉ thăn người cả vú/ Ít râu ánh ỏi kẻ nhiều râu/ Ở thế mà chi cười lẫn nhau” (Vô đề 118). Đứng giữa sự tương phản của nhiều loại người là các động từ nguýt, gièm, thỉ thăn (từ cổ chỉ sự ghen tỵ), ánh ỏi … như chia đôi hai thế giới không thể dung hòa. Mở và kết bài thơ được lặp lại (Ở thế mà chi cười lẫn nhau) như gói gọn các loại người ấy trong tiếng cười và các động từ, để chúng tha hồ mà gièm pha, ánh ỏi... lẫn nhau.

Soi chiếu ánh sáng ký hiệu học hiện đại vào thơ trung đại chắc sẽ tìm ra nhiều vấn đề mới. Như ở hai câu: “Lận thế treo dê màng bán chó/ Rắp danh cưỡi hạc lại đeo tiền” (Vô đề 131). Câu đầu thoát thai từ thành ngữ "Treo đầu dê bán thịt chó", hình tượng đã thành biểu trưng: có kẻ treo đầu con dê để lừa khách mua tưởng rằng quán bán thịt dê, nhưng lại là bán thịt chó. Ít nhất có các nghĩa: nói thế này làm thế khác; đưa ra hình thức này nhưng lại làm nội dung khác (đánh lừa)... Chữ “màng” được dùng với nghĩa “nghĩ tới” (mơ màng) tức ở thì tương lai, thế khả năng. “Rắp danh cưỡi hạc lại đeo tiền” thì “cưỡi hạc” là biểu trưng cho những người trí thức, học hành đỗ đạt cao. “Tiền” là biểu trưng cho vật chất, lợi lộc. Hai chữ “rắp ranh” có nghĩa chuẩn bị thực thi một ý định (tiêu cực) nào đó. Câu thơ mang tính cảnh tỉnh, ngăn chặn những kẻ có mưu đồ học cao giành tước vị bằng cách dùng tiền để mua bán!

image003.jpg -0
Bìa sách “Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm”.

Thơ châm biếm ngụ ngôn Nguyễn Bỉnh Khiêm mang tính răn đe. Làm thơ về cá lớn nuốt cá bé nhưng ai cũng hiểu nhà thơ vẽ ra cảnh tranh ăn và tàn sát lẫn nhau của người: “Sao mà cá lớn ở sông kia/ Cậy khỏe ăn thịt con nhỏ/ Chẳng khác gì con rắn nuốt ngốn/ Cũng giống như con rái cá lùng đuổi/ Ao ngầu bỗng rỗng không/ Lòng tham chưa no chán/ Chỉ cốt thân mình béo/ Chẳng biết tự mình gây ra độc hại cho mình/ Lưới to một phen giăng ra/ Không chốn nào có thể náu thân/ Miếng mồi sao lúc trước tham ăn quá” (Ở quán Lâm cảm tác về cảnh cá lớn nuốt cá bé). Kết quả của sự tham lam, ích kỷ, độc ác ấy là cái giá bằng mạng sống. Bài thơ như là nói với hôm nay: những con cá to tham ăn sẽ bị lưới công lý trừng trị. Các thành ngữ ngụ ngôn đi vào thơ Trạng Trình trở thành những bài học nhận thức sâu sắc, mới mẻ: “Cáo đội oai hùm mà nát chúng (người)/ Ruồi nương đuôi ký vốn khoe người” (Vô đề 99). Thành ngữ “Cáo đội oai hùm” cười những kẻ thân phận, tài năng hèn kém lại đi mượn tên tuổi, uy danh người khác để làm việc lòe bịp thiên hạ. “Ruồi nương đuôi ký (ngựa)” cười kẻ láu cá biết ăn nhờ người khác để khoe khoang. Những kẻ như thế thời nay càng không thiếu!

Bài thơ chữ Hán “Tăng thử” (Ghét chuột) rất tiêu biểu cho phong cách châm biếm Nguyễn Bỉnh Khiêm trí tuệ, sâu cay là sự kết hợp hai cảm hứng tương phản chủ đạo: căm ghét và thương cảm. Hình thức châm biếm là sự kết hợp ngụ ngôn với điển cố: “Chuột lớn sao bất nhân?/ Gặm khoét thật thâm độc/ Đồng ruộng trơ rơm khô/ Kho đụn kiệt gạo thóc/ Nông phụ cùng nông phu/ Nghèo khốn miệng gào khóc/ Ngựa Ngụy sao gặm yên?/ Sừng trâu Lỗ đánh cắp/ Mệnh dân vốn rất trọng/ Tàn hại chi thảm khốc?/ Ỷ thành xã làm càn/ Thần nhân đều hằn học/ Đã làm mất lòng người/ Thiên hạ ắt tru lục/ Thây phơi chốn thị triều/ Thịt cú diều rỉa móc”.

Các điển cố tăng cường thêm cho sự tang thương của nạn chuột phá hoại. “Ngựa Ngụy sao gặm yên?” nói về thời Tam quốc khi bị bao vây, lương thực hết, quân Ngụy phải lấy yên ngựa đem ninh nhừ để ăn. “Sừng trâu Lỗ đánh cắp” là chuyện thời nước Lỗ dân gặp nạn đói phải đem chiếc tù và bằng sừng trâu hầm lấy nước chia nhau cầm hơi. Gây ra nạn đói như thế là do loài chuột. Tưởng rằng giết hết chuột thì dân sẽ yên vì “Mệnh dân vốn rất trọng”. Thế mà… Đến đây cấu trúc lời văn như bị bẻ đôi. Không giết được chuột vì chúng ỷ vào thế sống trong “thành xã” (Ỷ thành xã làm càn).

Theo sách “Tấn thư” gây ra mối họa loạn là con cáo ở tường thành, con chuột ở đàn xã. Biết vậy mà không làm sao được, vì không dám đào hang cáo (vì thành sẽ đổ), không dám đào hang chuột (vì là nơi thờ thần linh thiêng). Thì ra loài cáo chuột tham nhũng tàn hại trước nay đều có thế lực “chống lưng” cả. Thế là lại chỉ dân chịu hậu họa! Nạn tham nhũng thời nào cũng vậy, luôn tìm thế “thành xã” mà nương thân tồn tại để hoành hành. Nhưng rồi lưỡi gươm công lý sẽ bắt chúng phải “thây phơi chốn thị triều”!

Trạng Trình khuyên dạy người ta phải qua trải nghiệm thực tế để có cái nhìn vừa chỉnh thể, hệ thống vừa chi tiết, kỹ càng: “Muốn học dưỡng sinh mà chưa biết róc hết thịt trọn vẹn con trâu” (Tân quán ngụ hứng 26). Trong thiên “Dưỡng sinh chủ”, Trang Tử viết: Lúc bắt đầu mổ trâu thấy cái gì cũng nghĩ đến toàn bộ con trâu. Làm nghề ba năm lại không thấy toàn bộ con trâu nữa mà chỉ thấy gân cốt của trâu. Về sau thành điển cố “Mục vô toàn ngưu” (Mắt không thấy toàn vẹn con trâu) để nói phải thành thạo nghề mới có cái nhìn thấu đáo và có kỹ năng thành thục đến từng chi tiết, cụ thể.

Trước kia người ta quan niệm điển cố là sự nệ cổ, sùng ngoại nhưng ở thời hội nhập toàn cầu thì “liên văn hóa” lại khẳng định điển cố là biểu hiện tất yếu của giao lưu, tiếp biến. Đó là những ký hiệu, biểu tượng tồn tại trong nó nhiều ý nghĩa nhưng chỉ gói trong một vài câu chữ ngắn gọn. Càng sở hữu nhiều điển cố càng chứng minh vốn “liên văn hóa” sâu rộng, lấy đó làm phương tiện châm biếm phải trí tuệ và có năng khiếu trào phúng. Trạng Trình là một trường hợp như vậy!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).