Tài năng lớn và tình yêu lớn

Người nhạc sỹ có tài năng lớn và một tình yêu cũng rất lớn đó lại là người rất tự biết mình. Đó là một phẩm chất không dễ có. 

Nghĩ mãi, tôi mới tìm được cái “tít” trên để nói về người nhạc sỹ mình rất đỗi nể trọng cả về tài năng và đức độ. Ông quả là có một tài năng lớn và một tình yêu cũng rất lớn. Đó là Hoàng Hiệp (1931 - 2013) - một tên tuổi quá quen biết với công chúng yêu âm nhạc qua nhiều ca khúc nổi tiếng: “Câu hò bên bờ Hiền Lương”, “Vào lăng viếng Bác”,“Ngọn đèn đứng gác”, “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây”, “Nhớ về Hà Nội”, “Kỷ niệm dòng sông tuổi thơ”, “Mùa chim én bay”, “Lá đỏ”, “Đất quê ta mênh mông”... và nhiều bài khác không thể kể hết.

Riêng về lĩnh vực sáng tác ca khúc trong dòng âm nhạc cách mạng, tôi cho rằng phải xếp Hoàng Hiệp vào chiếu trên cùng những tên tuổi như Lữu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Văn Cao, Huy Du, Nguyễn Đức Toàn, Hoàng Vân, Phan Huỳnh Điểu, Xuân Hồng… Bởi ông có quá nhiều tác phẩm hay, có giá trị rất cao cả về tư tưởng, tình cảm lẫn thẩm mỹ.

Ca khúc của ông luôn khiến người nghe rung động mạnh, gieo vào họ những tình cảm cao đẹp, luôn hòa trộn tình riêng tư với tình yêu Tổ quốc, dân tộc. Nhưng không bao giờ có chút gì gọi là “lên gân” mà ông đã chuyển tải những tình cảm lớn đó trong những giai điệu đẹp, rất tìm tòi, uyển chuyển, mềm mại, sâu lắng, đi vào lòng người.

Cố nhạc sỹ Hoàng Hiệp.
Cố nhạc sỹ Hoàng Hiệp.

Nói một cách nôm na, dễ hiểu, ca khúc của Hoàng Hiệp nghe thì sướng tai, hát thì sướng miệng. Nếu làm một cuộc điều tra xã hội học xem nhạc sỹ Việt Nam nào có nhiều bài hát được số đông công chúng thuộc đủ mọi lứa tuổi, tầng lớp xã hội ưa thích nhất, tôi tin sẽ là Hoàng Hiệp. Với ông, số lượng tác phẩm luôn đi kèm với chất lượng và độ lan tỏa trong công chúng.

Lại nữa, nhiều bài của ông có sức sống vĩnh hằng chứ không chỉ rộ lên một thời gian rồi lụi tắt mà những bài tôi vừa dẫn trên là minh chứng. Cách đây khoảng chục năm, tôi được Nhà xuất bản Thanh niên đặt hàng thực hiện một cuốn sách có tiêu đề “100 nhạc sỹ tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ 20” với yêu cầu cụ thể: Mỗi nhạc sỹ chọn một ca khúc hay nhất kèm lời giới thiệu về nhạc sỹ đó, không quá 300 âm tiết. Đến Hoàng Hiệp, tôi mất nhiều thời gian để lựa chọn bài tiêu biểu vì ông có khá nhiều như đã nói, không biết lấy bài gì mà bài nào cũng rất tầm cỡ, nổi tiếng như nhau.

Điều thú vị có lẽ ít người phát hiện là hầu như Hoàng Hiệp chỉ viết ca khúc ở giọng "thứ" (mineur) mà rất ít khi viết điệu "trưởng" (majeur). Vậy mà nghe nhạc của ông thấy rất phong phú, đa dạng, không bài nào giống bài nào, không chỉ một “e” như nhiều tác giả chuyên nghiệp đã mắc phải. Ông là “Thánh ca khúc” còn ở tài phổ thơ.

Trong số hàng mấy chục bài nổi tiếng của ông thì phổ thơ người khác chiếm tỷ lệ lớn hơn những bài ông tự làm lời. Có những bài thơ lúc đọc tôi thật khó hình dung khi phổ, nhạc sỹ sẽ xoay xở thế nào để có thể trở thành bài hát hay bởi thơ dài, nhiều lời, ví như bài “Em vẫn đợi anh về” của nhà thơ Xôviết Simonov do Lê Giang dịch.

Vậy mà Hoàng Hiệp đã tạo nên bài hát rất hiệu quả, được nhiều bạn trẻ ưa thích. Có thể coi đây là một trong những bài tình ca hay nhất trong dòng âm nhạc cách mạng hiện đại của Việt Nam. Nhạc sỹ không cắt xén, thêm bớt nhiều lời thơ, gần như để nguyên để phổ. Thật tài tình là bài hát vẫn rất ổn về khúc thức, không gây cảm giác dài dòng, rườm rà: “Năm tháng đội mưa rừng/ Ngày đêm vùi sương gió/ Em vẫn chờ vẫn đợi/ Vẫn đợi anh về…” Hoặc như trường hợp bài “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” phổ thơ của Phạm Tiến Duật. Thường thì thơ 7 chữ trở lên rất khó phổ nhạc.

Nhưng Hoàng Hiệp vẫn rất cố gắng hạn chế sự thay đổi, thêm bớt lời của người làm thơ để cố gắng giữ nguyên. Nhưng bài hát cuối cùng vẫn rất hay. Khó, tài ba hơn người trong việc phổ thơ là ở chỗ đó. Trong một lần ngồi đàm đạo, thần đồng thơ một thời Trần Đăng Khoa cho tôi biết là có nhiều người phổ bài thơ “Chút thơ tình của người lính biển” nhưng chỉ có bài của Hoàng Hiệp là anh ưng ý, thấy đúng với cảm xúc của mình.

Nhà thơ tỏ ra rất có “gu” âm nhạc và cảm ơn sự đồng cảm của nhạc sỹ để phổ nên bài thơ của anh mà không thể có một giai điệu nào phù hợp hơn. Ca khúc này là một trong những “mối tình” đẹp nhất, có “duyên”, “hạnh phúc” nhất giữa thơ và nhạc. Nhạc ấy phải đi với thơ ấy và thơ ấy không thể cất cánh thêm nếu không sánh cùng nhạc ấy.

Trong giới văn nghệ sỹ, nhất là thơ và nhạc vẫn có một thực tế: Đời sống riêng tư rắc rối, nhiều người đa tình, đa đoan, đa duyên và…đa hệ lụy. Không phủ nhận rằng chính nhờ những cái “đa” này mà nhiều tác phẩm bất hủ, sống mãi với thời gian đã ra đời. Không ít người đã hơn một lần “đò” trong cuộc đời, viết đến “tập 2”, “tập 3”, có khi “tập n” trong đời sống hôn nhân.

Cố nhạc sĩ Hoàng Hiệp và vợ.
Cố nhạc sĩ Hoàng Hiệp và vợ.

Ngoài ra, còn nhiều bóng hồng lượn lờ hoặc đã xâm nhập hẳn vào đời sống tâm hồn nhiều thi sỹ, nhạc sỹ thì không thể kể xiết. Những Phạm Duy, Đoàn Chuẩn, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Văn Tý…và nhiều thi sỹ đã viết nên các tác phẩm để đời từ những “phi vụ” như thế. Vậy nhưng Hoàng Hiệp thì khác hẳn. Nếu biết rõ đời sống ái tình của ông, hẳn là tất thảy các chị em đều sẽ thêm ngưỡng mộ, trân quý ông hơn. Và các chị em sẽ có cớ để chấn chỉnh các “ông xã”  là nghệ sỹ hoặc có máu “nghệ”: Các chàng đừng có mà lấy nê léng phéng, phong tình để sáng tác. Hãy học ông Hoàng Hiệp. Ông ấy “chân phương” mà sáng tác vẫn rất hay, giai điệu rất ướt át, lôi cuốn.

Thật vậy, chuyện ái tình của Hoàng Hiệp thì đáng để các đấng mày râu làm văn nghệ phải nghiêng mình, ngả mũ… chào thua cái đức thủy chung, trọn vẹn với bạn đời. Trong một lần tiếp xúc với ông tại TP.Hồ Chí Minh, tôi tò mò hỏi: “Anh có nhiều bài hát về tình yêu lứa đôi rất hay, nổi tiếng. Giai điệu quá ướt át, lãng mạn đầy sức quyến rũ. Hẳn là anh phải có nhiều kỷ niệm trong đời liên quan đến các bóng hồng?”.

Hoàng Hiệp mỉm cười. Ông vốn không phải người có “lợi khẩu” trong giao tiếp với bản tính kín đáo, ít nói, nhưng cũng tỏ ra hào hứng trả lời câu hỏi của tôi - tâm sự thì đúng hơn. Ông cho biết: Cả đời, ông chỉ quen biết rồi yêu một người duy nhất. Đó là người vợ của ông. Tất cả những bài tình ca có yếu tố “anh, em, nhớ, thương” của ông đều lấy cảm xúc từ tình yêu đối với vợ mình. Từ đó mà khái quát lên thành cái chung của mọi đôi lứa, đặc biệt là luôn gắn với đất nước, xã hội. Không có bài nào ông viết từ hình bóng ai khác, để tặng ai khác.

Ai chứ riêng Hoàng Hiệp thì tôi hoàn toàn tin lời ông nói. Nhiều nhạc sỹ từng làm việc và quan hệ nhiều, lâu với ông đều “chứng giám” điều này. Khi tôi hỏi trường hợp phổ bài thơ “Đợi anh về” của Simonov (qua bản dịch của Lê Giang), có giai điệu bịn rịn thương nhớ và tình cảm thủy chung son sắt, chắc nhạc sỹ phải gửi gắm vào một bóng dáng nào đó đang ở xa thì ông chậm rãi kể về sự ra đời của ca khúc nổi tiếng này.

Đó là những năm tháng giặc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại rất khốc liệt ở miền Bắc. Một lần, ông đạp xe về nơi vợ mình sơ tán. Thấy cô chủ nhà tuy có chồng đi bộ đội xa nhưng rất vui tươi, hay nói hay cười, ông nói với cô: “Chồng cô đi xa mà cô có vẻ không nhớ ông xã nhỉ?”. Cô gái lấy chiếc gối còn ướt đẫm cho nhạc sỹ xem rồi nói: “Đây, đêm nào em cũng khóc vì nhớ chồng đây. Không lẽ ban ngày lại tiếp tục khóc nữa”.

Hoàng Hiệp rất hối hận về câu hỏi của mình. Ông nghĩ tới việc phổ bài thơ của nhà thơ Xôviết mà mình đã biết từ lâu. Thế là bài hát ra đời. Bài thơ này trong kháng chiến chống thực dân Pháp cũng đã có hai nhạc sỹ phổ nhạc nhưng không được công chúng biết tới. Hoàng Hiệp cho biết tình yêu sâu nặng với vợ là động lực để ông sáng tác, trong đó có những bài tình ca rất hay mà công chúng vẫn tán thưởng.

Người nhạc sỹ có tài năng lớn và một tình yêu cũng rất lớn đó lại là người rất tự biết mình. Đó là một phẩm chất không dễ có. Thường thì vẫn “văn mình, vợ người”. Nhưng Hoàng Hiệp thì rất biết điểm yếu, sở đoản của mình. Còn chuyện vợ thì ông đã ngược lại, luôn “vợ mình”. Một lần tôi nói là trong lĩnh vực sáng tác âm nhạc, Hoàng Hiệp viết thứ gì cũng hay, xuất sắc.

Ông nói luôn: “Không. Mình chỉ sở trường ca khúc mà không về khí nhạc. Tuy có làm nhạc cho một số bộ phim, vở diễn nhưng thua nhiều anh em khác. Trong ca khúc, mình không sở trường viết bài hát tập thể và thiếu nhi”. Ông dẫn luôn bài “Bài ca thanh niên xung phong” của mình ra và tự cho rằng không thành công nên chẳng đâu hát.

Hoàng Hiệp quê ở An Giang. Ông sinh năm 1931. Từ sau năm 1954 đến 1975 sống ở miền Bắc. Sau đó vào sinh sống ở TP Hồ Chí Minh. Ngày 9/1/2013, ông qua đời tại đây, hưởng thọ 82 tuổi. Ông được Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2000 và Huy hiệu 65 tuổi Đảng ngay trước ngày mất 1 ngày (8/1/2013). 

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Gặp họa sĩ Nguyễn Trường Linh tại xưởng vẽ ở phố Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội, tôi bất ngờ khi thấy anh thẫn thờ ngồi trước tác phẩm "Thương nhớ đồng quê". Tôi lặng lẽ ngồi kế bên ngắm hình những tàu lá chuối bị rách tả tơi vì mưa gió. Những viền vàng trên cây lá gợi nỗi buồn tàn úa man mác.

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà vào Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm với tôi. Hôm đấy, chúng tôi hẹn nhau ra Hà Nội trong một sáng cuối đông. Chuyến đi ngắn ngày nhưng đầy kỉ niệm. Buổi tối, chúng tôi lang thang cùng nhau ở Hà Nội, nói về văn chương và hành trình viết lách của nhau. Hóa ra cô gái đến từ núi đồi Gia Nghĩa (thuộc Đắk-Nông cũ) này khá đa năng với rất nhiều thể loại, và gặt hái nhiều thành công từ rất sớm.

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Theo nhánh tẻ của sông Đa Nhim, dưới chân núi Pnum Trom Ủ (thuộc xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng) có plei (buôn) Krănggọ nổi tiếng với nghề làm gốm mộc của người Churu. Theo lý giải của những người già, “Krăng” là tên ông chủ đất khi xưa, “gọ” chỉ cái nồi đất. Tên buôn làng từ thuở xa xưa đã gắn với nghề gốm.

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Tại World Cup 2026, âm nhạc lần đầu tiên trở thành tiếng nói quan trọng, song hành cùng thể thao như ngôn ngữ chung để truyền tải thông điệp đặc biệt về tinh thần đoàn kết, sự cống hiến không ngừng và tôn vinh nhiều nền văn hóa đa dạng. Điều đó đã được phản ánh qua một bộ sưu tập nhạc nền đồ sộ cùng tham vọng biến sự kiện “thể thao vua” trở thành sân khấu giải trí hàng đầu thế giới.

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực Tương lai” của Việt Nam

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực tương lai” của Việt Nam

Tại Future Menus 2026, đơn vị tổ chức đã giới thiệu bốn xu hướng được dự báo sẽ dẫn đầu thị trường ẩm thực toàn cầu trong thời gian tới. Đó là những xu hướng gợi mở giúp ngành ẩm thực Việt Nam phát triển. Bởi ẩm thực là một kênh hữu hiệu để thu hút du lịch và quảng bá văn hóa Việt ra thế giới.

Chinh phục những địa hạt mới

Chinh phục những địa hạt mới

Vừa qua, bộ phim “Ốc mượn hồn” đã có màn ra mắt ấn tượng với khán giả cả nước. Không chỉ mang đến cho khán giả trải nghiệm điện ảnh mới mẻ, bộ phim còn là dấu ấn mới trên hành trình làm nghệ thuật của đạo diễn Đinh Tuấn Vũ, sau 7 năm xa màn ảnh rộng.

Gomshow có những suất diễn định kỳ tại Hà Nội là nỗ lực của cả ê kíp.

Từ vở ballet “Gat” đến câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa

Những chuyển động ballet đương đại hòa cùng hình ảnh chiếc mũ Gat truyền thống của Hàn Quốc trên sân khấu Nhà hát Hồ Gươm trong chương trình “Mùa Hàn Quốc 2026” gợi cho chúng ta, những khán giả Việt Nam, nhiều suy ngẫm. Đó không chỉ là một đêm diễn nghệ thuật mà là một lát cắt cho thấy cách Hàn Quốc đang kể câu chuyện văn hóa của mình với thế giới - bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại, mới mẻ, mang tính toàn cầu.

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

Nhà văn - dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng trong nhiều bài viết và những cuộc đàm luận sâu về chủ đề lạm dụng AI trong viết sáng tạo, ông đã cảnh báo việc lạm dụng AI trong sáng tác là hành vi tự hủy hoại sự sáng tạo của người viết, đồng thời đặt ra vấn đề trách nhiệm của tác giả, biên tập và các thiết chế văn học trước làn sóng “chữ nghĩa AI” đang lan rộng. Nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh cũng có nhiều ý kiến sâu sắc về vấn nạn sáng tạo văn chương lạm dụng AI. Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện ngắn với nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng và nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh về chủ đề này.

LHP Cannes 2026: Vệt vàng son của Cành cọ vàng

LHP Cannes 2026: Vệt vàng son của Cành cọ vàng

Sau một tuần tranh giải căng thẳng, cuối tuần qua, “Fjord” của nhà làm phim Romania Cristian Mungiu đã chính thức trở thành tác phẩm tiếp theo đoạt giải Cành cọ vàng danh giá tại LHP Cannes 2026. Càng đặc biệt hơn khi đây không phải thành công riêng lẻ, mà qua đó cho thấy chuỗi thành tích đặc biệt của đạo diễn này, nữ diễn viên chính Renate Reinsve lẫn nhà phân phối phim NEON.