Suy tư hai phía một đời sông

Giấu đi tên thật Nguyễn Văn Thanh, để lấy địa danh Vĩnh Bảo - Hải Phòng quê hương làm bút danh, nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo nhiều năm qua sinh sống và sáng tác tại TP Hồ Chí Minh. Ở đô thị nhộn nhịp nhất phương Nam, những dan díu danh lợi và những ngược xuôi nghĩa tình chưa bao giờ khiến nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo nguôi ngoai nỗi nhớ về con sông Chanh lặng lẽ chảy qua mảnh đất mình từng chôn nhau cắt rốn.

Với tâm tình của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo, con sông Chanh bé bỏng thỉnh thoảng chớp lóa trong sông Sài Gòn, ẩn hiện trong sông Đồng Nai hay nhòa ảo trong sông Vàm Cỏ… cũng hóa thành sự bận bịu trìu mến. Vì vậy, tập thơ “Hai phía một đời sông” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tháng 5/2021 giống như một lần nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo được lặn ngụp cùng con sông Chanh gần gũi mà xa mờ: “Một con đò nhỏ đi về/ Bóng sông trôi giữa bộn bề áo cơm”.

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo.
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo.

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo làm thơ đã lâu, nhưng gần đây anh mới xuất hiện trên văn đàn. Và một khi đã chấp nhận đánh đu với thi ca, thì nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo in thơ liên tục cho thỏa đam mê. Thực tế đã chứng minh, mỗi năm nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo đều có một tập thơ ra mắt công chúng: “Ngẫu hứng sông quê” (2016), “Gửi người trong mơ” (2017), “Ngược miền ký ức” (2018), “Giấc mơ gió” (2019), “Thả vào đêm sóng” (2020). Thế nhưng, khi đặt cạnh năm tập thơ trước, thì tập thơ “Hai phía một đời sông” hoàn toàn khác hẳn.

Nếu như các tập thơ cũ chủ yếu nhấn nhá vần điệu tâm tình, thì nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lại dồn nhiều suy tư vào tập thơ mới “Hai phía một đời sông”. Cảm hứng con sông Chanh ôm ấp thời trẻ dại của anh cứ cồn cào, cứ bịn rịn, cứ xôn xao: “Có khi nao ngắm bờ quên bờ nhớ/ Lở và bồi năm tháng đã nuôi ta?”.

Con sông Chanh trôi lơ đãng trong quá khứ. Con sông Chanh trôi mịt mù trong đoái vọng. Con sông Chanh trong vô tận trong lỡ làng. Con sông Chanh vừa thực vừa hư. Con sông Chanh thực hư như đời mẹ bao dung “Mẹ đã sống những ngày buồn dài, vui ngắn/ Giấu nụ cười vào vầng trăng xa xôi” và con sông Chanh hư thực như đời anh phiêu bạt “Ta còn mắc nợ heo may/ nợ quê/ nợ những tháng ngày ầu ơ”.

Người đàn ông giã biệt con sông Chanh ngày ấy đã bước vào thế giới chữ nghĩa bằng sự thong dong về một di sản ký ức, để nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo hôm nay lâu lâu ngoảnh lại vẫn nghe chừng khói sương dĩ vãng bủa vây mình. Trong tập thơ “Hai phía một đời sông” có vài bài thơ tình, như “Hẹn ước” nồng nàn: “Hẹn em ở cuối con đường/ Bao nhiêu tốt đẹp anh mường tượng ra/ Và tin nụ sẽ thành hoa/ Thơm cho hết những ngày ta đợi chờ”. Tuy nhiên, nổi bật hơn hẳn vẫn là những dòng chất chứa suy tư.

Với ngổn ngang nghĩ ngợi, nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo có lần “Về làng” để ngậm ngùi: “Đồng Cò không bóng cò/ Tên chỉ là tên cũ/ Nhà Ngang không ánh lửa/ Người bỏ đi lâu rồi/ Ao Chùa đất lấp vùi/ Cá tôm không chỗ ở/ Cây gạo thêm cổ thụ/ Tầm gửi mọc tràn lan/ Tôi đi tìm dấu đầm/ Tôi đi tìm dấu vực/ Gặp những người chân đất/ Khề khà câu chuyện quen/ Rằng sự sống gian nan/ Rằng cuộc đời khúc khuỷu/ Rằng rượu không còn rượu/ Giữ vỏ chai làm gì”. Cảnh cũ không còn là điều bình thường, ai cũng nhận ra. Quan trọng hơn là thái độ níu kéo hay buông bỏ niềm riêng tro tàn. Hình ảnh cái vỏ chai chỏng chơ bỗng dưng bày biện một cuộc thương lượng nằm ngoài sự mua bán giản đơn.

Tập thơ “Hai phía một đời sông” của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo.
Tập thơ “Hai phía một đời sông” của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo.

Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo đã qua tuổi sáu mươi, không còn thịnh nộ giằng co, không còn chen lấn thị phi. Anh tự họa chân dung khá bình thản: “Không có gì anh coi là mất/ Không có gì anh cho là được/ Buồn mãi rồi vui, vui mãi cũng buồn/ Hai mặt bàn tay, hai mặt lá”. Vậy mà khi ngồi trước bản thảo số phận, anh lại hoảng hốt: “Một cái gì dễ tin/ Mà khó tin như rượu”. Thơ cũng giống rượu, quá chén thì say, cạn chén thì buồn, vơi chén thì đau. Chính trạng thái thi ca ấy, đã khiến nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo truy vấn “Kỷ niệm” thật chênh vênh: “Đó là những gì đã qua, lâu đến bao nhiêu cũng không già/ Chúng bám vào trí nhớ ta như da như thịt/ Đó là những bông hoa/ Bị mùa đông tước đoạt/ Đó là những lâu đài trên cát/ Bị sóng cuốn phăng/ Đó là anh và em/ Cứ hướng vào nhau mà không bao giờ tới/ Đó là những gì vô cùng thương mến/ Đã ở lại sau lưng/ Đó là những khoảnh khắc tưng bừng/ Một đi không trở lại”.

Thế kỷ XXI nhiều thay đổi và cũng nhiều bất an. Mỗi nhà thơ phải biết chọn một câu chuyện để kể với nhân gian về tháng ngày ân cần của mình. Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo đã tận tụy quan sát: “Một đám cưới đi qua/ Một đám ma đã tới/ Vừa hoa trắng phơi phới/ Đã hoa vàng hắt hiu/ Vừa gặp gỡ nụ cười/ Đã đụng ngay nước mắt/ Vừa trên kia vi vút/ Đã dưới này âm u/ Vui buồn tự nhiên thu/ Son phấn và hương khói”. Rồi nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sốt ruột chiêm nghiệm: “Tôi nhớ một dáng núi gẫy/ Tôi nhớ một nét sông cong/ Đỉnh dốc gồ lên, từng trải/ Cánh buồm loay hoay chờ mong/ Tôi nhớ con đường thuở ấy/ Lá xanh như nỗi hẹn hò/ Quả chín dần trong tay hái/ Tơ hồng buộc vẩn vào vơ”.

60 bài thơ trong tập thơ “Hai phía một đời sông” cho thấy bóng dáng nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo e dè trước những biến động xung quanh. Anh nhìn cái vòng quẩn quanh thành bại kiếp người, không hề đáng sợ: “Từ có đến không/ Từ không đến có/ Trăm phần trăm cuộc đời/ Cái nửa không: chưa hẳn chẳng tiếng cười/ Cái nửa có: chưa hẳn không nước mắt/ Quên hơi thở mùa thu xao xác/ Lá rơi hoài như đến lúc phải rơi”. Đó chỉ là sự tuần hoàn tự nhiên. 

Thế nhưng, câu hỏi lương tri vừa thiết tha vừa day dứt mới đích thực làm anh xao xác: “Ở một nơi hoang tàn/ sót cánh hoa trắng muốt/ Ở một nơi tối tăm/ sót một tiếng chim hót/ Ở một nơi chót vót/ sót một lời nguyện cầu/ Nơi biết đâu là đâu/ sót ngọn đèn lay lắt/ Trên đỉnh núi heo hút/ sót một cánh đại bàng/ Trên cánh rừng bảo tồn/ sót một con tê giác/ Con tê giác cuối cùng/ sống cùng người, nhớn nhác…”. 

Những câu thơ đầu không có gì đặc biệt, tạm dừng ở sự cảm nhận mông lung, nhưng số phận con tê giác cuối cùng lại gợn lên khắc khoải. Con tê giác cuối cùng phải nhớn nhác khi sống cùng con người, hay chính những con người nhớn nhác lãng quên trách nhiệm với thiên nhiên? Đó là giá trị nhắc nhở và gợi mở của thi ca, với con người và với cuộc đời.

Với tập thơ “Hai phía một đời sông”, nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo mạnh dạn bước khỏi sự nhịp nhàng an toàn của loại thơ tùy hứng giao đãi. Anh gõ vào trái tim mình những lời khắc khoải hơn để suy tư dâng lên cùng mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi giấc mơ “nhỏ bé như chiếc lá/ cũng còn có cuộc đời”. Nói cách khác, thơ suy tư của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo cũng từa tựa ớt chỉ thiên giản dị gửi gắm một hương vị không thể dửng dưng, không thể nhạt nhẽo, không thể thờ ơ: “Chỉ thiên, chỉ địa mải mê/ Một đời mang một lời thề thẳng ngay/ Một đời nồng, một đời cay/ Một đời chẳng chịu đổi thay bao giờ”.

Đọc tập thơ “Hai phía một đời sông” của nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo, thấy mừng cho anh có màu sắc thi ca khác. Và mừng cho con sông Chanh lầm lụi ở Vĩnh Bảo - Hải Phòng đã lắng đọng một miền phù sa khác trong lòng đứa con tha hương.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.