Sương - có "mờ nhân ảnh"?

Là một hiện tượng tự nhiên có đặc trưng tạo ra một không gian mờ ảo, mơ hồ nên sương là một biểu tượng mang tính đối nghịch vừa độc hại vừa thi vị. Ngày xưa ưa thích sương, ngoài các nhà binh pháp còn là các nhà thơ. Ngày nay thì hình như chỉ còn các thi nhân yêu thích (!?).

Xin điểm qua những trận đánh lớn của nhân loại liên quan đến sương.

Binh pháp cổ phương Đông có “kế” được gọi là “man thiên quá hải” (giấu trời qua biển), tức lợi dụng sương mù để vượt biển qua mắt đối phương. Trong “Tam quốc diễn nghĩa” có chương “Thuyền cỏ mượn tên” rất nổi tiếng. Chuẩn bị trận đánh lớn (Xích Bích), vừa làm giảm nhuệ khí đối phương vừa thu được vũ khí lợi hại, Gia Cát Lượng cho các thuyền chất đầy cỏ khô đến vây trại thuyền quân Tào rồi gõ thanh la não bạt inh ỏi…

Vì sương quá mù, không quan sát rõ, Tào Tháo không dám manh động, chỉ còn cách cho lính bắn tên xối xả vào vị trí có âm thanh… Khi sương tan, Tháo mới té ngửa vì mắc kế độc. Trận sau đó quân Tào đại bại, không chỉ vì mất hàng vạn mũi tên vào tay kẻ thù, mà còn về tâm lý bị ức chế vì mắc mưu đại cao thủ…

Sương - có
Hình ảnh "Thuyền cỏ mượn tên".

Lịch sử quân sự thế giới ghi nhớ trận “Long Island” về bài học tướng giỏi cũng không bằng sự ủng hộ của thời tiết. Tướng Washington rất có thể đã bị thảm bại tại Long Island (22/8/1776) bởi quân đội Anh thiện chiến và được trang bị tốt. May mắn thay, sương mù dày đặc khiến quân Anh không thể triển khai đội hình nên đành hậm hực rút lui.

Không biết có phải từ sự việc này mà một tướng tài quân Phổ - ông Carl Von Clausewitz, đầu thế kỷ XIX khái quát nên thuật ngữ “Sương mù chiến tranh” chỉ việc các bên tham chiến đưa ra những tuyên bố mơ hồ về ý định hoặc mục tiêu để lừa đối phương. Nhưng chuyện có thật trong thế chiến I, Không quân Anh dù giỏi nhưng vẫn đặc biệt lo ngại sương mù - một đặc trưng tự nhiên của thời tiết nước Anh, cản trở hoạt động tác chiến. Các phi công được lệnh nếu không thể tiếp đất thì lái máy bay hướng ra biển, nhảy dù hoặc chấp nhận bỏ phi cơ.

Trong thần thoại Hy Lạp, Ersa (còn gọi là Herse) là nữ thần sương mai - một tiểu nữ thần, con của thần Zeus và nữ thần Selene. Ersa thường theo cỗ xe mặt trăng của mẹ đi khắp bầu trời. Những giọt sương Ersa kết lại từ độ ẩm của không khí giúp nuôi dưỡng cây cối. Tín ngưỡng Do Thái rất đề cao sương trong lĩnh vực nông nghiệp và thần học. Trong ngày lễ trọng, người chủ lễ mặc áo lễ màu trắng (màu sương) cầu nguyện để có sương, có sương tức sẽ có mưa. Người Trung Hoa cổ xưa quý sương đến mức vua cho hứng sương trộn với bột ngọc thạch để tạo thuốc trường sinh. Họ coi sương là “châu ngọc của thánh”, là “mồ hôi của trời”, biểu tượng của sự tái sinh.

Sương - có
Nữ thần Sương mai Ersa!.

Sương thường có hai loại, sương mù tức sương bay trong không khí và sương kết thành hạt. Sương kết hạt còn gọi là móc (từ Hán Việt là “lộ thủy”) xuất hiện trên các vật thể vào sáng sớm hoặc buổi chiều. Khi nhiệt độ hạ thấp thì hạt sương cấu tạo trong dạng nước đá, tức sương muối. Người Việt ta đã biết sương muối gây độc, làm khô héo cây cỏ, nhất là cây mới trồng nên vào dịp nhiều sương bà con phải đan phên tre nứa, rạ rơm để che chắn, rất tốn công. Ngày nay khoa học khuyến nghị tập thể dục tốt nhất vào thời điểm hết sương, tức 9,10 giờ sáng, bởi sương bị nhiễm các khí độc bốc lên từ mặt đất, ngưng tụ rồi sà xuống mặt đất…

Nhưng trong điều kiện không khí trong lành, ít khói bụi thì sương trở thành một thi liệu không thể thiếu trong thơ bởi sự long lanh thi vị của hạt nước trong veo và tạo ra không gian “mờ nhân ảnh” của sương mù. Nhà thơ cổ Lý Bạch có bài thơ “Tĩnh dạ tứ” (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) so sánh ánh trăng với sương: “Sàng tiền minh nguyệt quang/ Nghi thị địa thượng sương/ Cử đầu vọng minh nguyệt/ Đê đầu tư cố hương” (Đầu giường ánh trăng rọi/ Ngỡ mặt đất phủ sương/ Ngẩng đầu ngắm trăng sáng/ Cúi đầu nhớ quê hương).

Thuở nhỏ, Lý Bạch hay lên đỉnh núi Nga Mi ở quê ngắm trăng. Lớn lên phiêu bạt, mỗi lần thấy trăng sáng là nhà thơ lại nhớ về quê nhà. Ánh trăng đã mơ màng lại còn nhìn ánh trăng như màn sương, tức không gian càng thêm mờ ảo, hư thực. Trăng sáng như sương nơi xa xứ hôm nay hay trăng sáng như sương ngày ở quê hôm qua? Hay là cả hai ánh xạ vào nhau tạo nên một rung động khôn nguôi trong tâm tưởng về cố hương? Cái mơ hồ này lại tạo ra cái xa vắng, bâng khuâng, day dứt. Thơ hay đi giữa cái thực và không thực có lẽ là thế!

Cụ Nguyễn Khuyến trong bài “Khóc Dương Khuê” có câu nổi tiếng: “Tuổi già hạt lệ như sương/ Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan”. Nước mắt người già vì ít nên đọng thành hạt như giọt sương trong khóe mắt. Nhưng vì thương bạn mà tuy đã già vẫn khóc nhiều thành “hai hàng chứa chan”. Cái đắc địa nhất của câu thơ là phép so sánh nước mắt với sương. Tuổi già mong manh, sương cũng mong manh, có thể “bay hơi” bất cứ lúc nào!

Thơ Mới 1932-1945 có thi sĩ Hàn Mặc Tử làm thơ về sương gây nhiều vương vấn cho độc giả, nhất là các thiếu nữ: “Mơ khách đường xa, khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra.../ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà?” (Đây thôn Vĩ Dạ). Áo trắng hòa lẫn vào sương trắng thì đúng là “mờ nhân ảnh”. Nhưng đấy là không gian vật lý, còn không gian tâm trạng của thi nhân thì ngược lại, rất “đậm đà”. Sương trong thơ Xuân Diệu lại bay lên cao, hồn người theo đó mà “nâng theo”: “Sương nương theo trăng ngưng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”. Cấu trúc toàn thanh bằng cùng với cách gieo vần “ương” (sương, nương, tương), vần “ưng” (ngưng, lưng), vần “ơi” (trời, chơi, vơi), câu thơ tạo ra cảm giác con người cũng cứ như được chơi vơi bồng bềnh trên mây vậy!

Nhiều nhà thơ tả sương hạt rất hay nhưng được nhiều độc giả thuộc thì Trần Hữu Thung có câu ấn tượng: “Mặt trời càng lên tỏ/ Bông lúa chín thêm vàng/ Sương treo đầu ngọn cỏ/ Sương lại càng long lanh” (Thăm lúa). Ấn tượng bởi câu này đặt trong bối cảnh không gian người vợ cùng người chồng đi “thăm lúa”. “Thăm” nhưng lại là chia tay nhau để người chồng ra trận. Ý thơ đẹp, trong sáng, khỏe khoắn đã nâng hình tượng vốn dĩ đẹp càng đẹp thêm. Thời hiện đại thì Hữu Thỉnh tả sương bay rất tinh tế: “Bỗng nhận ra hương ổi/ Phả vào trong gió se/ Sương chùng chình qua ngõ/ Hình như thu đã về” (Sang thu). Không thể thay được hai chữ “chùng chình” vì chỉ nó mới diễn tả được cái ngập ngừng, dùng dằng, nửa muốn đi nửa muốn ở của đám sương bởi cái gió rất nhẹ gần mặt đất… Thước đo tài năng thi sĩ trước hết là ở cách dùng tính từ là vì thế.

Trong nhạc, khó quên với bài hát “Giọt sương bay lên” của Nguyễn Vĩnh Tiến: “Mùa màng trôi ôi tiếng chim kêu/ Trong veo những giọt sương/ Mùa màng trôi ôi chiếc lá xanh/ Soi gương những giọt sương/ Mùa màng trôi ôi nước mắt ai/ Bay lên với giọt sương…”. Hình tượng “những giọt sương” cứ được láy lại như tạo ra độ lấp láy, long lanh của giọt sương. Bài này hát khó, hơi thở phải thật nhẹ, nhả hơi phải như thả sương ra cho bay lên. Nhưng không khéo lại thành điệu đà.

Trong tiểu thuyết có “Trong sương hồng hiện ra” của Hồ Anh Thái, đúng với cái mơ màng, bảng lảng của sương, câu chuyện kể chàng trai mười bảy tuổi rơi vào một cơn hôn mê được đi xuyên thời gian, ngược về hai mươi năm trước gặp cha mẹ mình đang yêu nhau và nhiều câu chuyện khác thời Hà Nội trong những trận ném bom của không quân Mỹ. Một giả tưởng thật hay: Quá khứ luôn được phủ bởi một màn sương hồng, sương tan, mỗi người sẽ chiếm lĩnh quá khứ bằng trải nghiệm của mình. Không sống bằng quá khứ nhưng không được quên quá khứ, cũng không nên tô hồng hay bôi đen mà cứ để quá khứ trung thực như vốn có để tìm hiểu trọn vẹn, chính xác hơn.      

Ở loại hình phim, năm 2010 nước Mỹ có bộ phim nổi tiếng “Sương mù chiến tranh” đoạt giải Oscar hạng mục phim tài liệu nói về các cuộc chiến tranh mà Hoa Kỳ tham chiến trong thế kỷ XX. Nghiêng về cái nhìn phản đối, lên án chiến tranh, bộ phim được ca ngợi như một sự chữa lành vết thương mà những sai lầm của người Mỹ mắc phải.

Ở Việt Nam ta có “Dốc sương mù” (2012), với phong cách lãng mạn kết hợp với chất hài hước dí dỏm nhẹ nhàng, hình ảnh mới lạ, cảnh quay đẹp giữa núi rừng Tây Nguyên, bộ phim không chỉ nói lên khát vọng của những người trẻ mà còn phơi bày ra những rào cản khắc nghiệt từ bao tập tục thủ cựu cần tháo bỏ. Hay mới đây là bộ phim tài liệu đoạt giải Phim châu Á xuất sắc tại liên hoan phim châu Á ở Đà Nẵng “Những đứa trẻ trong sương” của đạo diễn Hà Lệ Diễm đề cập hủ tục cướp vợ của người Mông.

Thế là từ bên ngoài cuộc đời thực tế sương lại bồng bềnh trôi vào văn chương góp phần tạo nên một mã nghệ thuật cần khám phá!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).