Sức mạnh biểu cảm của phụ từ

Trong cuộc sống, thường khi ta bắt gặp những con người xét về các tiêu chuẩn khách quan của cái đẹp thì chẳng có gì hơn người, nhưng chẳng hiểu do đâu họ lại có sức quyến rũ đến không cưỡng nổi. Một chiếc răng nanh hơi bị khểnh, một lúm đồng tiền mơ hồ, cũng có khi tinh vi hơn, một cái nhìn ngơ ngác con nai vàng, một tiếng cười mũi ấm áp vô tư... Chúng ta không sao cắt nghĩa cái sức hấp dẫn nhiều khi đến phi lý ấy, nên đành gộp chung vào một cách gọi: cái duyên.

Những nhà thơ có nhiều thành tựu thường biết “đặt” rất đúng chỗ những chữ tưởng chừng như rất cũ nhưng làm nổi bật cả bài thơ. Điển hình như Nguyễn Bính, Trần Đăng Khoa, Trúc Thông...

Trong văn học, nhất là trong thơ, cũng có hiện tượng như vậy. Trước nay, khi nhận xét giá trị tác phẩm, ta thường quan tâm đến những tiêu chuẩn to tát về nội dung, hình thức đã được mặc định thành những tiêu chí bất di bất dịch, như cách dùng số đo manơcanh để chọn hoa hậu, mà nhiều khi bỏ qua những tiểu tiết làm nên cái duyên văn, thơ của tác phẩm (và thường khi của cả tác giả). Những cái duyên như vậy có thể có ở bất cứ chỗ nào trong tác phẩm, nhưng với thơ, chúng rất hay xuất hiện ở cách dùng các phụ từ. Bài viết nhỏ này chỉ thử đưa ra đôi ba ví dụ về hiện tượng này mà thôi.

Một vài giới từ chỉ địa điểm: Giới từ được nhiều nhà thơ sử dụng và sử dụng có duyên bậc nhất là giới từ “ở”. Đây là hai câu thơ của Nguyễn Bính:

“Lúa ở đồng anh và lúa ở
Đồng nàng và lúa ở đồng tôi”.

Câu thơ này mà kéo thẳng một mạch thì thành một câu văn xuôi không thể lẩm cẩm hơn, nhưng cắt thành hai như trên thì lại làm nên hai câu thơ hay và thú vị đến nỗi những ai đã yêu thơ Nguyễn Bính ít người không biết tới. Sự thể là do đâu? Nếu đem câu hỏi ấy ra hỏi ngay cả các nhà thơ, thậm chí các nhà phê bình thơ, tôi e không chắc đã có được câu trả lời thoả đáng, chứ đừng nói là câu trả lời thống nhất. Với kiến giải chắc không tránh khỏi chủ quan, hạn hẹp, tôi cho rằng: Về mặt nội dung, ngữ nghĩa, câu thơ trên chẳng có gì sâu sắc, cao diệu để làm nên cái hay của nó. Ấn tượng mạnh trước hết là ở cách chơi ba lần điệp ngữ “lúa ở đồng” (trong hai câu thơ này, ngoài ba điệp ngữ ấy chỉ còn lại vẻn vẹn ba đại từ nhân xưng và hai chữ “và” !), nó gây cảm giác bề bộn, ngổn ngang như một cái gì đó đang diễn ra trước mắt và cả trong hồn người vào thời khắc ấy. Nhưng ấn tượng quan trọng hàng đầu của câu thơ nằm trong nhạc điệu (và nhịp điệu) của nó. Đây là đặc thù muôn thuở của thơ, nghĩa là trong thơ yếu tố nhạc điệu là một phần không thể thiếu, thậm chí có khi là phần quyết định làm nên giá trị của tác phẩm.

Chẳng hạn với hai câu thơ này, nếu xem bằng mắt (và nếu lại là người không có chút năng lực cảm thụ thơ) thì sẽ không thấy hết cái thú vị của nhạc điệu. Phải đọc nó lên, và chỉ theo một phản xạ ngữ điệu thường tình thôi thì ta đã buộc lòng nhấn mạnh trọng âm ở ba từ “ở”, riêng từ “ở” cuối câu trên, đọc xong ta được phép dừng lại một chút, nhưng chỉ một chút thôi để còn kịp bắc cầu xuống câu dưới. Từ “ở” trong văn cảnh này là một phụ từ về mặt ngữ nghĩa, nhưng lại chiếm một vị trí chính yếu về mặt nhạc tính, bởi dấu hỏi ở đây là một thanh điệu vừa trầm nặng vừa mềm mại, nó ấn câu thơ xuống ở những chỗ cần thiết cho nhu cầu tiếp nhận cảm xúc của con người. Hãy thử thay thế nó bằng những từ khác, ta sẽ thấy hiệu quả cũng khác hẳn.

Trường hợp với nhà thơ Trúc Thông trong câu thơ được nhiều người bàn luận sau đây cũng thế: “Lá ngô lay ở bờ sông”... Theo tôi, giá trị của từ “ở”  này cũng không khác mấy với trường hợp vừa nói tới ở trên, và cách lý giải cũng vậy. Một nhà thơ là đồng hương và hậu sinh của thi sĩ Nguyễn Bính là Nguyễn Đức Mậu cũng rất hay dùng từ “ở” trong thơ và dùng cũng rất đắc địa, các bạn có thể dễ dàng xác minh điều này khi giở lại các trang thơ của nhà thơ quân đội này.

Trần Đăng Khoa cũng thường có những ca xử lý giới từ điệu nghệ. Bài thơ đề tặng nhà thơ Tố Hữu có câu:

“Chú buồn nghe một tiếng rao
Thương bạn nhỏ gió thổi vào nghiêng nghiêng”.

Phân tích, mổ xẻ những gì thuộc về cái duyên như ta đã nói là điều cực khó, nếu không nói là có những trường hợp hầu như bất lực, nói cách gì cũng không ra nhẽ, thà cứ để mặc ai muốn hiểu thế nào thì hiểu mà lại hơn. Chẳng hạn như với từ “vào” ở đây. Cái giới từ chỉ phương hướng này nếu trong văn cảnh bình thường và với người lớn thì có vẻ lòng thòng, thật thà như đếm, nhưng trong câu thơ của một cậu bé nó trở nên thích hợp lạ lùng, bởi nó hết sức hồn nhiên như khẩu ngữ của trẻ con, mà lại ăn vần chằn chặn. Kết hợp được các yêu cầu khó khăn ấy một cách thanh thoát đến thế chỉ có thể gọi là một duyên may. Một câu thơ khác của Khoa cũng có thể dùng những lời giải thích trên đây để phân tích về sự hợp lý nghệ thuật của cách dùng phụ từ, ấy là câu:

Sang năm Bác tám mươi rồi
Bác ơi Bác thấy trong người khỏe không”.

Hai chữ “trong người” có vẻ như chẳng có gì, trong văn cảnh khác có thể bỏ đi cũng không sao, nhưng chính cái vẻ như không có gì ấy, nếu mượn lời của Hoài Thanh khen Xuân Diệu, thì “chính là chỗ Khoa hơn người  đấy”. Tôi còn muốn nói thêm một trường hợp nữa trong thơ Khoa, cũng về vấn đề này: “Lá trầu khô giữa cơi trầu”... Lá trầu chẳng khô giữa cơi trầu thì khô ở đâu? Liệu có ai tẩn mẩn mà thắc mắc thế chăng? Mà cái vần “âu” thì có khó gì mà không đổi được, “lá trầu khô đã từ lâu” chẳng hạn. . . tội gì mà phải lặp từ - người ta bảo thế. Đã đến đận này thì khéo phải bó tay, chỉ biết rằng không thay như thế được, rằng câu thơ của Khoa là đạt đến tối ưu trong trường hợp này. “Lá trầu khô giữa cơi trầu” là nó khô ngay ở cái chỗ trú ngụ của nó, ở cái chỗ nó được phép là nó nhất, nó phải hoàn thành cái nhiệm vụ “trầu” của mình - tức là nó phải tươi; còn giá như nó có khô ở chỗ khác, chỗ mà có thể người ta vứt nó ra đấy thì có gì đảm bảo là nó không khô vì lý do khác chứ không phải vì người ăn trầu đã từ lâu không sờ đến nó, mà ở đây là vì ốm. Nói “lá trầu khô giữa cơi trầu” thì cũng tựa như nói “lưu đày ngay giữa quê nhà”, nghịch cảnh lắm, nên cảm thương lắm lắm! Ấy, cái duyên của người làm thơ đôi khi nằm ở những chỗ chẳng đâu vào với đâu như thế đấy. Thò bút vào để vạch vòi nó ra cũng là việc làm bất đắc dĩ, vì rất dễ hóa ra vô duyên.

Anh Ngọc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).