Kỷ niệm 250 năm ngày sinh của Đại thi hào Nguyễn Du (1765-2015)

Sự khác biệt của Thúc Sinh và Từ Hải đối với nàng Kiều

Nói đến tình yêu là nói đến tính cá nhân, tính riêng lẻ, tính đặc thù, vì vậy không thể cân đong đo đếm được, không thể đem tình yêu của người này so sánh với tình yêu của người khác, không thể xem Thúc Sinh và Từ Hải ai yêu nàng Kiều say đắm, đậm đà hơn ai. Tuy vậy, dù muốn hay không, trong tính cá nhân, riêng lẻ, đặc thù ấy vẫn mang đậm nét giai tầng xã hội của họ.

Thúc Sinh xuất thân từ dòng dõi Nho học ("cũng nòi thư hương") và kiêm cả việc buôn bán ("theo nghiên đường mở ngôi hàng Lâm Tri", câu 1278) nên đã lộ rõ bản chất giai tầng xã hội khác hẳn với Từ Hải - vốn giỏi võ nghệ, có khí phách ngang tàng của người anh hùng ("Đường đường một đấng anh hào/Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài").

Những nét riêng thể hiện rõ bản chất giai tầng xã hội của Thúc Sinh là ở câu hỏi của chàng Thúc với Thúy Kiều và ở cách tạo tình huống để chuộc nàng Kiều ra khỏi lầu xanh của mụ Tú Bà.

Câu hỏi: "Rằng sao nói lạ lùng thay/ Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra?" xảy ra trong hoàn cảnh nào? Trong hoàn cảnh: mùa hè nàng Kiều tắm, Thúc Sinh thấy "Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên". Chàng làm một bài thơ thể hiện cảm xúc của mình trước cảnh đó. Kiều trả lời ý là: "Hay hèn" gì thì cũng phải họa vần về bài thơ của chàng nhưng vì đang nỗi nhớ quê nên khất lại ("Hay hèn lẽ cũng nối điêu/ Nỗi quê nghĩ một hai điều ngang ngang/ Lòng còn gửi áng mây hàng/ Họa vần xin hãy chịu chàng hôm nay" - câu 1317- 1320)

Phải chăng câu hỏi của chàng Thúc là một câu hỏi thật lòng? - Không phải. Ta đã biết: Thúc Sinh đến với nàng Kiều có phải thời gian ngắn đâu, kéo dài từ mùa xuân tới mùa hè. Hai người đã "Nguyệt hoa, hoa nguyệt não nùng/ Đêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng". Họ đã gắn bó với nhau thắm thiết: "Một dây một buộc ai giằng cho ra". Rồi "Trước còn trăng gió sau ra đá vàng".

Cảnh Thúc Sinh gặp Kiều.
Cảnh Thúc Sinh gặp Kiều.

Thúc Sinh say mê Kiều đến nỗi: "Trăm nghìn đổ một trận cười như không". Tất cả những điều kể trên thể hiện rõ: Thúc Sinh là khách làng chơi, Kiều là gái lầu xanh. Nếu Kiều là con gái thật của Tú Bà thì Tú Bà có để cảnh đó diễn ra không? Thúc Sinh biết rõ mười mươi như vậy lại hỏi Kiều "Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra?".

Tại sao Thúc Sinh lại phải giả vờ/ già đò/ giả bộ như vậy? Phải làm như vậy nhằm che giấu một sự thật: mình không phải là khách làng chơi, mình ngây thơ, tử tế, nghiêm túc, muốn lấy Kiều làm vợ (lẽ). Hỏi như vậy còn để Kiều phải nói rõ sự thật của đời mình: Không phải con gái Tú Bà mà do hoàn cảnh nên phải làm gái lầu xanh.

Khi biết rõ sự thật về Kiều, do bản chất giai tầng xã hội (có học, lại buôn bán nên nhiều mưu mẹo, tính toán thiệt hơn), Thúc Sinh đã không tìm cách chuộc ngay nàng Kiều mà phải lập mưu: mượn cớ đưa Kiều đi hóng mát ở Trúc Viện, giữ nàng ở đó rồi tung tin kiện Tú Bà mua con gái nhà lương thiện về làm đĩ, một mặt sai người điều đình để chuộc Kiều ra... Làm như vậy thì mất ít tiền hơn, Thúc sinh vừa lấy được Kiều, vừa có lợi về tiền của.

Còn Từ Hải thì sao? Những nét riêng của Từ Hải khác hẳn với Thúc Sinh. Ta hãy xem họ Từ đến với nàng Kiều. Sắc đẹp "nghiêng nước nghiêng thành" của nàng thì ai cũng rõ. Phải chăng khi đến với nàng Kiều, Thúc Sinh và Từ Hải đều bị hấp dẫn bởi sắc đẹp đó? Thúc Sinh thì: "Hoa khôi mộ tiếng Kiều nhi" (câu 1279).

Từ Hải thì "Qua chơi nghe tiếng nàng Kiều" (câu 2175). Tiếng tăm của nàng Kiều ("mộ tiếng", "nghe tiếng") đã khiến hai người phải chú ý đến nhưng tiếng tăm đó nói về sắc đẹp hay về điều gì thì phải xem xét mới có thể  kết luận được.

Với Thúc Sinh, những câu "Trướng tô giáp mặt hoa đào/ Vẻ nào chẳng mặn, nét nào chẳng ưa/ Hải đường mơn mởn cành tơ"; "Sinh càng một tỉnh mười mê/ Ngày xuân lắm lúc đi về với xuân" đã nói rõ chàng Thúc mê đắm sắc đẹp của nàng Kiều. Còn Từ Hải thì có phải do hấp dẫn bởi sắc đẹp của nàng Kiều không? - Không phải! Tiếng tăm của nàng Kiều làm Từ Hải phải chú ý là sự khác biệt của nàng: "Bấy lâu nghe tiếng má đào/ Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?". Nó đặc biệt ở chỗ không chịu sự an bài của số phận mà vẫn tìm cách vươn lên, vẫn mong muốn đạt được những sự tốt đẹp hơn. Nó cũng tương đồng với bản chất anh hùng của Từ Hải: "Đội trời đạp đất ở đời".

Chính vì vậy, ngay từ đầu, khi đến với nàng Kiều, Từ Hải đã bộc lộ rõ sự chân thành, chàng nói với Kiều: "Tâm phúc tương cờ/ Phải người trăng gió vật vờ hay sao" (câu 2179-2180) nghĩa là lấy lòng thành đối với nhau chứ không phải là người chơi bời.

Khi nghe Kiều nói rõ việc "Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?" thì Từ Hải càng tỏ rõ sự trân trọng với nàng, chàng nhẹ nhàng bảo: "Lại đây xem lại cho gần/ Phỏng tin được một vài phần hay không?".

Là một người "Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài" mà không cậy sức mạnh của mình, bắt ép người khác phải theo ý mình, chàng để cho nàng Kiều tự mình thấy lòng tin ở mức nào. Phẩm chất này cũng thể hiện rõ khi hai bên ý hợp tâm đầu thì Từ Hải đã không hề tính toán thiệt hơn, chuộc ngay nàng Kiều ra khỏi lầu xanh ("Ngỏ lời nói với bằng nhân/ Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn" câu 2207-2208).

Cảnh Kiều gặp Từ Hải.
Cảnh Kiều gặp Từ Hải.

Lấy Kiều nhưng Từ Hải vẫn không quên sự nghiệp, chàng quyết ra đi. Kiều nói: "Phận gái chữ tòng/ Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi". Ở người khác, do sĩ diện hoặc nêu những lý do vớ vẩn để ngăn nàng Kiều đi theo nhưng với bản chất thật thà, trọng sự thật, Từ Hải đã nói rõ tình cảnh không hay của mình là: "Bằng nay bốn bể không nhà/ Theo càng thêm bận biết là đi đâu?/ Đành lòng chờ đó ít lâu/ Chầy chăng là một năm sau vội gì".

Đúng là phẩm chất đáng quý của người anh hùng! Khi đã có thế lực, Từ Hải tạo điều kiện để Thúy Kiều "báo ân báo oán". Xong việc, Kiều: "Tạ ân lạy trước Từ Công" và nói rõ ơn này: "Khắc xương ghi dạ xiết chi/ Dễ đem tim óc đến nghì trời mây". Với bản chất chân thành, không tính toán, Từ Hải khảng khái cho rằng: "Anh hùng tiếng đã gọi rằng/ Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha", còn trong gia đình thì "Huống chi việc ấy việc nhà/ Lọ là thâm tạ mới là tri ân".

Một nét riêng nữa của Từ Hải cũng cần phải nói đến, đó là lòng thương người, lòng thông cảm sâu sắc với nỗi xót xa đau khổ của nàng Kiều phải xa lìa cha mẹ. Chàng nói với nàng Kiều: "Xót nàng còn chút song thân/ Bấy nay kẻ Việt, người Tần cách xa/ Sao cho muôn dặm một nhà/ Cho người thấy mặt là ta cam lòng" (câu 2433-2436). Tấm lòng ấy (trừ Kim Trọng) phải chăng chỉ có ở Từ Hải mà không có ở những người đàn ông khác khi đến với nàng Kiều?

Qua phân tích ở trên, ta thấy rõ: Cùng là khách làng chơi đến với Kiều nhưng hai người được miêu tả rất khác biệt, rất đời, rất thực. Đó chính là tài năng kiệt xuất của Nguyễn Du tiên sinh qua những phác họa về bản chất giai tầng xã hội của mỗi người thật rõ nét và sống động biết bao.

Nguyễn Duy Hiển

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).