Sân ga cuối năm

Sân ga cuối năm, Hà Nội rét mỏng. Cái rét không buốt, chỉ vừa đủ để người ta kéo cao cổ áo, bước chậm lại một nhịp. Phố xá dường như cũng chậm theo, nhường chỗ cho những chuyến tàu đi qua trong im lặng và ký ức.

Trước ga Hàng Cỏ, từ rất sớm, có một người đàn bà đứng lặng. Bà chừng hơn bảy mươi tuổi, dáng nhỏ, hai tay đút sâu trong túi áo bông đã sờn. Bà không lên tàu. Không hẳn để tiễn ai. Bà chỉ đứng đó, cho đến khi đoàn tàu khuất hẳn sau mái ga cũ, rồi mới lặng lẽ quay về.

Người ta quen gọi nơi này là ga Hà Nội. Nhưng với những người lớn tuổi, cái tên Hàng Cỏ vẫn gợi nhiều ký ức hơn. Ở đó có mùi khói tàu, mùi dầu máy, và những chuyến đi mà ngày trở về thường được nhắc rất khẽ. Sương đọng trên mái ga thành từng vệt mờ. Trong làn sương lạnh, mùi dầu máy hòa với mùi rét, quen thuộc như một phần cuộc đời bà Hoa. Bà đã quen với thứ mùi ấy từ những năm làm vợ bộ đội - khi chia ly nhiều hơn đoàn tụ, khi tin tức thường đến muộn và ít lời.

Sân ga cuối năm -0
Ảnh minh họa.

Sân ga cuối năm đông hơn ngày thường nhưng không ồn ào. Người đứng sát nhau, ai cũng giữ cho mình một khoảng riêng. Mỗi người mang theo một nỗi nhớ, không cần phải nói ra.

Bà Hoa đứng đó.
Không lên tàu.
Chỉ đứng tiễn.

Với những người phụ nữ thời chiến, “đứng tiễn” gần như là một thói quen. Quen đứng lại. Quen nhìn theo. Quen nhận về mình phần trống trải. Sân ga vì thế mà rộng hơn, dù người vẫn đông.

Cuối năm 1976, chuyến tàu Bắc - Nam đầu tiên sau chiến tranh chuẩn bị lăn bánh. Ga Hà Nội khi ấy còn cũ. Tường loang khói, cột sạm đen, bảng chỉ dẫn mòn chữ. Nhưng trong cái cũ kỹ ấy, có một điều rất mới: đất nước đã liền một dải. Ông Tâm, chồng bà Hoa, đi chuyến tàu đó. Ông không mang súng. Chỉ có chiếc áo sờn vai bà đã vá nhiều lần và đôi bàn tay chai cứng mùi sắt thép, dầu mỡ. Ông cùng đồng đội vào miền Trung sửa lại những đoạn đường ray bị bom đạn cắt ngang, để tàu Bắc - Nam có thể chạy liền mạch trở lại. Ông dặn bà đừng ra ga. Cuối năm lạnh, người đông, đứng lâu dễ mệt. Nhưng bà Hoa vẫn đi. Bà muốn tự mình tiễn ông, như bao lần đã tiễn - chỉ là lần này khác.

Ngày ông ra trận, bà cũng đứng ở sân ga này. Khi ấy, tiếng còi tàu dồn dập, khói mù mịt, người đi không dám hẹn ngày về. Bà đã quen với việc làm vợ từ những lần tiễn không có lời hứa. Còn hôm nay, tiếng còi tàu trầm hơn.

Buổi sáng ấy, sân ga có tiếng guốc gỗ gõ đều trên nền xi măng. Có tiếng áo bông sột soạt khi người ta né gió. Có tiếng dặn con nhỏ khe khẽ, sợ làm động vào khoảnh khắc đang trôi qua. Bà Hoa nhìn lên mái ga, nơi sương còn đọng thành từng vệt mờ. Nghĩ đến căn nhà nhỏ ở cuối phố - nơi mỗi buổi tối bà vẫn thắp một ngọn đèn. Không phải để soi sáng, mà để biết mình còn đang chờ.

Hà Nội buổi sáng cuối năm không rộn ràng. Thành phố đứng lặng, nhìn người ta đi xa, quen tiễn hơn quen đón. Khi tiếng còi tàu vang lên, dài và trầm, bà Hoa nắm chặt tay ông Tâm. Tiếng còi không thúc giục, không vội vàng. Nó giống một nhịp thở chậm của những người đã đi qua chiến tranh và hiểu rằng còn được trở về là điều quý giá. Trong khoảnh khắc ấy, bà nhớ lại những tiếng còi đã đi qua đời mình: tiếng còi báo động giữa đêm, tiếng còi tàu quân sự đưa người ra trận, tiếng còi của những chuyến tàu chở đầy nước mắt đàn bà và trẻ nhỏ.

Tiếng còi hôm nay khác.
Không gọi chia ly.
Chỉ gọi nối lại.

Tàu lăn bánh. Chậm rãi. Từng toa tàu đi qua trước mắt. Bà Hoa đứng thẳng, không khóc. Những giọt nước mắt đã ở lại phía sau, trong những năm tháng không biết ngày về. Lần này, bà giữ cho mình một niềm tin vừa kịp lớn lên. Khi toa cuối cùng khuất hẳn, sân ga bỗng rộng ra. Gió lùa qua khoảng trống giữa người với người. Bà Hoa đứng thêm một lúc, như một người mẹ tiễn con - chỉ đứng đó cho đến khi chắc rằng mình đã nhìn đủ lâu.

Sau này, khi nghe tin hai đoàn tàu Bắc - Nam đã gặp nhau, đường ray thông suốt, người ta mừng. Bà Hoa cũng mừng. Nhưng niềm vui của bà nằm trong những buổi tối thắp đèn, nghe tiếng tàu vọng xa, biết rằng trên cùng một đường ray ấy, ông Tâm đang đi qua những miền đất không còn xa lạ. Giờ đây, tàu chạy nhanh hơn. Ga Hà Nội đã đổi khác: mái mới, đèn sáng, người qua lại vội vàng. Nhưng mỗi buổi sáng cuối năm, khi cái rét mỏng trở về, dưới mái ga cũ còn sót lại trong ký ức, vẫn có những người đứng chậm hơn một nhịp. Không hẳn để tiễn ai. Chỉ để nghe lại tiếng còi tàu vang lên giữa năm cũ và năm mới.

Sân ga cuối năm vì thế không chỉ là nơi tàu đi qua.
Mà là nơi người ta học cách đứng lại.
Giữ cho mình một niềm tin lặng lẽ.
Rằng có những cuộc trở về không bắt đầu từ bước chân -
mà bắt đầu từ một đời người đứng đợi.

Đường Hùng

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.