''Quán mưa'' - Bài thơ hay thời kinh tế thị trường

Một lần, tình cờ tôi đọc được bài thơ trên ở một tờ báo mà cho tới nay, không còn nhớ báo gì. Do vẫn viết những bài bình thơ trên báo chí mà tôi có thói quen sưu tầm những bài thơ hay. Bài nào không thể lưu giữ tờ báo thì phải chép lại. Và trong sổ của tôi, có bài "Quán mưa" rất hay này. Bài thơ ra đời cũng đã khá lâu, đến nay đọc lại vẫn nguyên vẹn tính "thời sự" và mới mẻ, có cảm giác như tác giả vừa mới sáng tác.

Chẳng cơn cớ gì
Mưa òa xuống bất chợt
Xua ta vào quán em

Chiều vắng khiến ta ngại quen
Em áo trễ gió thị trường lỏng cúc
Ta biết rồi, thôi em đừng thổn thức
Ly rượu màu gửi giá nụ cười em

Thôi em đừng làm duyên
Kẻo uổng phí nét chau mày thành thục
Rồi chốc lát mưa tạnh đi bất chợt
Chỉ còn men rượu màu, đâu còn em.

(Phạm Ngà)

Một lần, tình cờ tôi đọc được bài thơ trên ở một tờ báo mà cho tới nay, không còn nhớ báo gì. Do vẫn viết những bài bình thơ trên báo chí mà tôi có thói quen sưu tầm những bài thơ hay. Bài nào không thể lưu giữ tờ báo thì phải chép lại. Và trong sổ của tôi, có bài "Quán mưa" rất hay này. Bài thơ ra đời cũng đã khá lâu, đến nay đọc lại vẫn nguyên vẹn tính "thời sự" và mới mẻ, có cảm giác như tác giả vừa mới sáng tác.

''Quán mưa'' - Bài thơ hay thời kinh tế thị trường -0
Nhà thơ Phạm Ngà.

"Quán mưa" không hẳn là một bài thơ tình với nghĩa chúng ta vẫn hiểu là thơ nói về tình cảm đôi lứa mặc dù có "anh", có "em" mà bài thơ này mang tính xã hội và triết lý sâu xa về xã hội, thời cuộc cùng với những quan hệ về thế thái nhân tình.

Một trận mưa rào "òa xuống bất chợt" khiến tác giả phải vào trú và uống nước tại một quán cà phê bên đường mà chủ là một cô gái. Đó là chuyện rất bình thường có thể xảy ra với bất cứ ai. Có gì phải nói? Vậy mà Phạm Ngà đã viết nên một bài thơ thật độc đáo.

Tác giả vào quán là hết sức tình cờ trong một tình huống bất đắc dĩ vì "chẳng cơn cớ gì", thậm chí còn vào một cách hoàn toàn bị động: "Xua ta vào quán em". Chỉ một chữ "xua" mà ta thấy hết được tâm thế, tâm lý của tác giả. Đó là vào một cách chẳng những bị động như đã nói mà còn rất miễn cưỡng, buộc phải vào, không thể không vào chứ chẳng thích thú gì. Cũng bởi vì cơn mưa ập đến đột ngột quá buộc người ta phải gấp gáp tìm chỗ trú mưa.

Có một chi tiết thật thú vị. Đọc câu thơ thứ hai: "Mưa òa xuống bất chợt", tôi có phần nghi cái chữ "òa" bị in nhầm từ chữ "ào". Nhưng "òa" cũng có nghĩa hay, không kém gì "ào". Nếu "ào" diễn tả mưa đột ngột, ập xuống bất ngờ khiến người đi đường không kịp trở tay thì "òa" có cái nghĩa như trên lại còn thêm nghĩa như là "vỡ òa", tức chứa đựng cảm xúc mạnh của con người. Như vậy, rõ ràng "òa" hay hơn. Tuy vậy, để biết rõ ý của tác giả như thế nào, tôi bấm máy gọi cho Phạm Ngà.

Từ Hải Phòng, ông nói qua máy: "Chờ mình ít phút để mình giở lại bản gốc xem thế nào vì cả hai chữ đều có nghĩa". Rất nhanh, ông trả lời: ""Òa" chứ không phải là "ào". Nhưng tùy Nguyễn Đình San thích chữ nào hơn thì dùng". Tôi nói với Phạm Ngà cảm nhận về hai chữ như đã viết ở trên. Ông cho biết để lựa chọn từ nào trong hai từ, đã mất mấy ngày cân nhắc, đắn đo, nhiều đêm trằn trọc khó ngủ vì chưa "chốt" được phương án cuối cùng, mãi mới khẳng định chữ "òa". Quả là một sự tự khó tính với mình và lao động nghệ thuật quá công phu. Điều này thì bạn đọc không dễ biết.

Chàng thi sĩ đâu có phải một gã si tình hoặc khách làng chơi đi săn tìm của lạ mà luôn giữ tư cách của một khách trú mưa đúng mực, nghiêm túc: "Chiều vắng khiến ta ngại quen". Vậy mà cô chủ quán đã tưởng nhầm chàng là "đối tượng" làm ăn của mình để cố tạo nên một dáng điệu: "Em áo trễ gió thị trường lỏng cúc". Một câu thơ gây ấn tượng mạnh với cách nói thật độc đáo. Áo đã "trễ", lại còn "lỏng cúc". Thật không còn gì mời mọc, khêu gợi hơn.

"Áo trễ" tức đã "lộ hàng". Lại còn "lỏng cúc" để bàn tay của "khách" dễ bật, tháo. Nhưng nói thế cũng dễ có nhiều người nói được tuy đã rất tìm tòi. Song, giải thích cái sự cố ý lỏng lẻo, nới rộng của chiếc áo cô chủ quán là do "gió thị trường" thì quả là một sáng tạo đột xuất gây sửng sốt cho người đọc. Vâng. Quả là cái cơ chế thị trường ngày hôm nay đã phơi bày ra lắm chuyện bi hài mà Phạm Ngà đã đẩy được lên đến đỉnh điểm bằng những hình tượng thật là đắt:

Ta biết rồi, thôi em đừng thổn thức
Ly rượu màu gửi giá nụ cười em.

Với cái áo trễ, lỏng cúc mà cô chủ quán cố tình kích động vào mắt khách mày râu, lại cộng thêm cái "nụ cười" chắc chắn phải lẳng lơ lắm của cô thì giá một ly rượu cô có thể  nống lên đến bao nhiêu cũng được. Mỉa mai biết bao cái ly rượu được "gửi giá" bởi "nụ cười em" kia.

Có vẻ như nhà thơ ít trách, giận cô chủ quán mà chỉ thiên về ái ngại bởi thấy cô tội nghiệp nên mới cất lời khuyên, vừa thành tâm, lại vừa chua chát:

Thôi em đừng làm duyên
Kẻo uổng phí nét chau mày thành thục.

Sự chau mày để làm duyên mà cũng trở nên thành thục thì còn gì mỉa mai, giễu cợt hơn? Bởi đó là nghề, là sự chuyên nghiệp, điêu luyện của em.

ảnh trang 16.jpg -0
Quán vắng chiều mưa.

Ở đầu bài thơ, "mưa òa xuống bất chợt". Đến cuối bài, trong "chốc lát mưa tạnh đi bất chợt". Dẫu có chút để ý, bận lòng nào đó của nhà thơ đối với cô chủ quán chẳng có tình cảm gì với thi sĩ mà chỉ là "kỹ xảo nghề nghiệp" thì ông cũng nhận ra một điều: Rốt cuộc, "chỉ còn men rượu màu, đâu còn em". Thực ra, em còn hay không đâu có ý nghĩa gì vì đây đâu phải là một tình cảm đích thực mà chỉ là cái trò câu khách của cô chủ quán và một chút thăng hoa tưởng tượng đầy chất nghệ sĩ của thi nhân mà thôi.

Bài thơ đan xen giữa cái giả và cái thật. Cái "thổn thức", cái "nụ cười" của em là giả. Cái ái ngại pha lẫn vị xót xa với chút thương cảm, tội nghiệp của nhà thơ đối với cô chủ quán là thật. Lòng thi nhân thì rộng lớn, bao dung, còn tình cô gái kia thì trống rỗng, dối gian. Một đằng là trái tim, một đằng chỉ là tiền. Làm sao cái quán mưa kia có thể chứa đựng được chàng? Đó là sự thật hiển nhiên. Vậy mà nhiều khi nhà thơ như quên mất giá trị của mình để cho những ngẫu nhiên của hoàn cảnh xô dạt, đẩy mình vào cái chỗ chật hẹp, lại còn bị động như đã nói. Đó là "chẳng cơn cớ gì" mà lắm khi lòng thi sĩ vẫn bị như là "cuốn theo chiều gió".

Nhưng rồi nhà thơ cũng tỉnh ra. Mưa dẫu có to, có dài đến đâu rồi cũng đến lúc phải tạnh. Và nếu mưa "òa xuống bất chợt" thì tạnh cũng "bất chợt". Đương nhiên nhà thơ phải rời khỏi quán vì không lý do nào để có thể nấn ná ở lại. Bước ra khỏi quán, đúng như mọi khách hàng khác, tác giả cũng "chỉ còn men rượu màu, đâu còn em". Ba chữ "đâu còn em" như một cú phẩy tay, phủi bụi chứ không gây cảm giác nuối tiếc, hụt hẫng dù chỉ là một chút. Cũng phải thôi. Bởi vì em chỉ là một cô chủ quán chuyên nghiệp "làm duyên", chuyên nghề "chau mày thành thục". Giữa cái thời kinh tế thị trường này, những người như em nhiều lắm, có đầy!

Ta đều biết kinh tế thị trường luôn mở ra nhiều cơ hội để phát triển xã hội theo hướng tiến bộ, văn minh hơn. Nhưng đi liền với sự tăng tiến về đời sống vật chất với các phương tiện sống hiện đại thì lại để lộ ít nhiều sự xuống cấp về văn hóa, về đạo lý và nhiều giá trị truyền thống khác. Bài thơ "Quán mưa" của Phạm Ngà đã nói lên được điều này một cách nhẹ nhàng nhưng thâm thúy, kín đáo. Không có ý mổ xẻ, phê phán, không nêu ra những hệ lụy của mặt trái cơ chế thị trường này mà người đọc thấy thấm thía và cảm nhận được sâu sắc mọi hệ quả. Thành công của tác giả ở chỗ đó. Một bài thơ ngắn thật ấn tượng với cấu tứ độc đáo, sâu sa, với lối diễn đạt tự nhiên, không một chút "lên gân", đao to búa lớn.

"Quán mưa" là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất cho phong cách thơ của nhà thơ Phạm Ngà: Nội dung sâu sắc, xúc tích, từ ngữ được chắt lọc, luôn có những tứ thơ mạnh, không né tránh những vấn đề gai góc, sắc nhọn của thời cuộc.

Phạm Ngà sinh năm 1944 tại Hà Nội, nhưng theo gia đình về Hải Phòng cư trú từ nhỏ. Học hết phổ thông, ông vào học ngành văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ra trường, dạy văn nhiều năm rồi về làm việc ở Nhà xuất bản Hải Phòng. Ông từng làm Giám đốc, Tổng biên tập nhà xuất bản này kiêm Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Hải Phòng. Hiện ông đã nghỉ hưu. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).