Phố hẹn ngã ba sông

Có hai điểm mà nam thanh nữ tú Hà Nội rất nghiện “check in” trên phố Hàng Đậu. Đầu tiên phải kể đến cầu Long Biên ở phía trên. Sau đó là tháp nước cổ ở cuối phố. Hàng Đậu sớm hình thành đường phố từ thời Lê-Trịnh với Bến Nứa (sông Hồng) và cửa ô Phúc Lâm tấp nập kẻ chợ vào ra. Tuy chỉ dài hơn 270 mét nhưng hiện nay phố Hàng Đậu được ví là cổ họng của ngã sáu, xe cộ khắp nơi tụ về vượt sông lên phương Bắc.

Ký ức phố cổ

Với tôi phố Hàng Đậu trở nên thân thuộc bởi lẽ từ thập niên 80 thế kỷ trước tôi đã quen thân với không ít bạn bè văn thơ báo chí ở quanh phố. Nhất là với cố thi sĩ Trúc Thông (1940-2021) ở 16 phố Hồng Phúc kế bên Hàng Đậu. Có lần ông kể khi còn nhỏ vẫn thấy hai bên dãy phố bán nhiều loại đỗ hạt như xưa. Còn hàng gạo thì bán đầy ở phố Nguyễn Thiếp. Nhiều người còn làm giá đỗ ngay trên vỉa hè bán cho người đi chợ. Hoặc có nhà xay đỗ xanh bằng cối đá thơm phức cả phố.

Ông còn nhớ ở ngay ngã tư Hàng Đậu và Nguyễn Thiếp chính là cửa ô Phúc Lâm (gọi theo tên đất thôn cũ). Sau thực dân Pháp đã phá đi để xây đường dốc gạch dẫn lên cầu Long Biên (khánh thành năm 1902). Từ đó phố Hàng Đậu là đường huyết mạch từ cầu Long Biên đến khu Thành cổ, nơi đóng quân và các cơ quan đầu não của thực dân Pháp (cho tới 1954).

1-đầu phố hàng đậu.jpg -0
Đầu phố Hàng Đậu.

Nhớ lại một thời phố Hàng Đậu cũ, nhà báo Bùi Kim (1940-1989) ở số nhà 31 đã kể với tôi rằng, xưa trên phố Hàng Giấy cắt ngang Hàng Đậu có nhiều nhà hát cô đầu xuất hiện. Những âm thanh tom chát rộn rã suốt đêm làm cả phố mất ngủ. Không ít kẻ lãng tử thương hồ cháy túi vì ghiền thuốc phiện ngủ lăn lóc dưới mái hiên nhà. Ông còn nhớ một kẻ giang hồ vặt luôn nghêu ngao những lời ca sến xẩm não nề: “Long Biên còi tàu đôi ngả/ Hẹn hò đậu bến hiên nhà/ Mắt em trên ô cửa cũ/ Nhìn về đăm đắm tình xa…”. Sau này đồn cảnh sát Hàng Đậu đẩy đám cô đầu này về vùng đất Thái Hà và Khâm Thiên (1935). Hàng Đậu được mở rộng tới 12 mét trở thành trục đường giao thông chính yếu vượt sông đi các nơi.

Trong dân gian có câu truyền tụng ngày đó: “Hà Nội có cầu Long Biên/ Vừa dài vừa rộng bắc trên sông Hồng/ Tàu xe đi lại thong dong/ Người người tấp nập gánh gồng ngược xuôi”. Hàng Đậu còn có mấy ngả đường dẫn vào chợ Đồng Xuân, Cầu Đông và Bắc Qua nên càng nhộn nhịp ngày đêm. Nhưng cũng từ đó phố Hàng Đậu không còn những hàng hạt như ngày nào. Hai bên trục đường mọc lên sớm nhất là các cửa hàng săm lốp ô tô và sửa chữa xe cộ. Hiện phố phát triển thêm nhiều mặt hàng kinh doanh khác rất phong phú. Nay phố thuộc cả hai quận Hoàn Kiếm và Ba Đình, Hà Nội.

Tuy vậy, phố vẫn lưu giữ những ngôi đình thôn làng xưa. Tuy ngắn nhưng phố có tới 6 di tích đền, đình, chùa, trường học Cúc Hiên và từ đường cổ họ Phạm. Đó là những chứng tích mang phong vị của một phố cổ lâu đời. Trong dân gian vẫn còn ghi: “Rủ nhau chơi khắp Long thành/ Ba mươi sáu phố rành rành bên sông/ Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông/ Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè…”.

Đồng thời những di tích này cùng với dân phố Hàng Đậu ngạo nghễ nhìn giặc Pháp phải cúi đầu rút khỏi thành phố (1954). Vẫn còn đó những hình ảnh hàng chục ngàn lính viễn chinh Pháp đi qua cầu Long Biên rút về bến cảng Hải Phòng để về nước. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm có lần đi qua cầu đã viết: “Ba mươi năm/ Ta lại đạp xe qua chiếc cầu cũ kỹ/ Trong sớm thu dịu ngọt/ Nghe sông Hồng vặn mình trong cát/ Gió rít mỗi trụ cầu/ Thấy màu mắt những anh hùng trong thép/ Thấy những sóng người dào dạt/ Trùng trùng những lớp đi xa” (Cầu Long Biên).

Kỳ tháp ngã sáu

Gần với nhà báo Bùi Kim một thời còn có gia đình cố nhà báo Vương Thanh Bội (số nhà 45) và gia đình nhà thơ Lương Ngọc An (ở số 43). Tình cờ tới gia đình nhà báo Vương Thanh Bội, tôi gặp được con gái ông là nữ sĩ Vương Huệ Anh. Sau khi cha mất chị vẫn ở ngôi nhà đó cho tới nay đã hơn 60 năm. Chị đưa tôi xem những kỷ vật của cha để lại như chiếc cặp và thẻ nhà báo. Nữ sĩ Vương Huệ Anh làm thơ và xây dựng giá sách của cha để lại thật phong phú. Chị xúc động nhắc lại con phố chị đã gắn bó đời mình. Chị đã viết: “Hà Nội ơi, những lối chiều hò hẹn/ Ta còn em mùi hoa sữa tóc vương/ Bao hàng cây vẫn trổ lá bên đường/ Và đâu đó yêu thương về ấm phố” (Ký ức phố).

Nhưng có lẽ thú vị nhất khi chị còn quấn quýt thân thương với “Lâu đài” tròn ngã sáu đầu phố trong hàng chục năm qua. Đó chính là tháp nước Hàng Đậu với 54 ô cửa sổ đẹp tựa tháp cổ ở châu Âu. Chị cho biết ngôi tháp này được người Pháp xây dựng trước cả cầu Long Biên. Đó là một câu chuyện đầy truân chuyên khi nạn dịch bệnh lỵ đã xảy ra ở Hà Nội vào cuối thế kỷ 19. Chính viên Thống sứ Paul Bert mắc bệnh lỵ mà chết nên người Pháp phải hoàn thiện đường dẫn nước sạch để dùng. Năm 1894, tháp nước Hàng Đậu và Đồn Thủy đã được xây để cung cấp nước sạch cho thành cổ và các trại lính dùng.

5-đón chờ những bức ảnh mùa thu.jpg -1
Đón chờ những bức ảnh mùa thu ở tháp nước Hàng Đậu.

Tháp nước Hàng Đậu là điểm nhấn (tháp cao 25 mét và đường kính dài 19 mét) tại ngã sáu đường phố đi vào Hàng Đậu. Đó là giao điểm của các đường Hàng Cót, Hàng Giấy, Phan Đình Phùng, Quan Thánh và Hàng Than. Tháp nước còn ngự bên vườn hoa Hàng Đậu cũ (nay gọi là công viên Vạn Xuân). Với vỉa hè khá rộng (từ 2 đến 4 mét) vòng quanh cùng hàng cây trổ hoa rực rỡ, tháp nước tạo nên cảnh quan kỳ thú. Mùa nào cũng có nét đặc trưng gợi cảm bởi mặt trời luôn chiếu rọi suốt ngày. Nữ sĩ Vương Huệ Anh cho biết vào dịp xuân hoặc thu tới tháp nước Hàng Đậu người đến chụp ảnh rất đông. Nhất là vào mùa hàng cây lộc vừng thay lá cuối cùng từ giã gió đông rét mướt. Những cụm lá vàng rơi và bay theo gió sông Hồng thật náo nức. Một không gian thanh khiết nõn xanh lộc biếc thay cho mùa lá rụng vàng bay khắp phố. Thật nao lòng: “Có những chiều một mình trên phố cũ/ Nghe tàn phai phủ trên lối đi dài/ Có những chiều mây trắng hững hờ bay/ Ngày thêm rộng trong không gian vô tận” (Vương Huệ Anh).

Ta tự hào đi lên

Tình cờ tháp nước trổ 54 cửa sổ bao quanh như những con mắt trầm buồn đầy mỹ lệ trong những mùa đông gió lùa tứ tán. Con số 54 trùng với đuôi số năm mà thực dân Pháp phải rút khỏi Hà Nội (1954). Đồng thời đây cũng là năm mà chiến sĩ thắng trận Điên Biên Phủ trùng trùng như sóng tiến về tiếp quản Thủ đô (10/10/1954). Sinh thời, nhà thơ Trúc Thông nói cho tôi biết ở số nhà 37 Hàng Đậu có NSƯT Hữu Nội (1948-1994), người hát rất hay những bài ca cách mạng. Giọng hát Hữu Nội dầy ấm vang dội và được coi là ca sĩ kế cận với đàn anh NSND Trần Khánh. Cả hai đều là những cây đơn ca hàng đầu của Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam vào thập niên 80 thế kỷ trước. Nếu giọng hát Trần Khánh tràn trề nội lực và ẩn chứa âm hưởng bi tráng thì Hữu Nội lại có độ vang vọng hùng ca bay bổng. Mỗi người một âm sắc tài hoa dị biệt.

NSƯT Hữu Nội nổi tiếng với những bản ca tráng lệ như: “Ta tự hào đi lên. Ôi! Việt Nam” (Chu Minh); “Đất nước trọn niềm vui” (Hoàng Hà); “Ca ngợi Tổ quốc” (Hồ Bắc); “Tình ca đất nước” (Phan Nhân) … Thật khó ai có thể quên khi được chứng kiến ca sĩ Hữu Nội đứng tại sân khấu bên cạnh tháp nước hát bài “Ta tự hào đi lên. Ôi! Việt Nam”. Dường như mỗi mùa xuân về dọc đường phố ồn ào vẫn vang vọng lời ca: “Ta đứng đầu ngọn sóng/ Nơi đấu tranh bão táp diệu kỳ/ Nơi hy vọng những vườn hoa nở/ Nơi chân lý sáng ngời đầu sóng gió/ Ta tự hào đi lên. Ôi! Việt Nam”. Đặc biệt ca khúc “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” (Cao Việt Bách) khó ai vượt được Hữu Nội. Đây là bản hợp xướng hùng tráng mà Hữu Nội là người biểu diễn thành công nhất. Vậy đó, Hàng Đậu luôn là nơi hò hẹn cho những chuyến đi xa. Nơi ngã ba sông Hồng rạo rực những nỗi niềm chia xa. Hồn thơ thi nhân luôn lai láng bởi: “Lá vàng sau mùa hoa rụng/ Gió sông thổi dọc phố Thu/ Xạc xào níu bàn chân bước/ Lãng tử nheo mắt giang hồ” (Hạnh Hoàng Thi).

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).