Phà xuôi Cù lao Ông Hổ

Bến thuyền Ô Môi trên sông Hậu đông hơn mọi khi. Một số đoàn học sinh lên phà sang cắm trại bên Cù lao Ông Hổ. Đây là một đảo xanh rộng (2112 ha, dài hơn 9km) nằm giữa sông Hậu Giang. Nay đảo đã trở thành xã Mỹ Hòa Hưng thuộc thành phố Long Xuyên (An Giang). Người ta gọi Cù lao Ông Hổ là thiên đường của hoa Ô Môi rực đỏ khi hè tới. Người dân An Giang có câu: “Dù ai xuôi ngược bốn bề/ Chưa đến Ông Hổ chưa về An Giang”.

Cổ tích trên những lục bình trôi

Chẳng cứ vào những ngày hè nóng bức mà mỗi khi thời tiết trái mùa những hàng cây Ô Môi trên đường phố Long Xuyên cũng trổ nụ xinh xinh. Bến phà Ô Môi được đặt tên cũng vì đây là tên một loại hoa đặc sản miền đất này. Đây là bến tàu thuyền cùng phà chủ yếu đi sang xã đảo Mỹ Hòa Hưng (Cù lao Ông Hổ).

1-bến phà vào cù lao ông hổ (bờ mỹ hòa hưng).jpg -0
Bến phà vào Cù lao Ông Hổ (bờ Mỹ Hòa Hưng).

Người hướng dẫn viên bồi hồi kể cho chúng tôi nghe chuyện ngày xưa ấy trên cù lao có hai vợ chồng người già sống trong cô đơn nghèo đói… Một hôm hai ông bà đang vớt những bông hoa súng ăn trừ bữa khi mùa lũ dâng cao. Họ an ủi nhau sống qua ngày đoạn tháng cam go trong mưa to gió lớn. Cỏ cây quanh vùng tan tác vì lở đất và nước dâng lên mênh mông như biển cả.

Đột nhiên một đám lục bình trôi qua hai người thấy có một chú mèo run rẩy kêu lên những âm thanh nghèn nghẹn không thành tiếng. Ông già vội chèo chiếc ghe nhỏ bé cố kèo bè lục bình vào bờ để cứu con mèo nhỏ. Khi vợ ông ôm con thú hoang vào trong lòng mới hay đó là một chú hổ mới sinh bị lũ cuốn trôi lạc cha mẹ. Cù lao ngày ấy còn là đảo hoang đầy rắn rết và cọp beo. Mấy mùa lũ và thiên tai ập tới làm cồn đảo xác xơ tan tác. Hai ông bà đưa hổ con vào bếp sưởi và vét những dĩa cháo cuối cùng cho hổ con ăn cầm hơi.

Từ đó cả ba vui vầy cùng nhau với bữa rau, bữa cháo vượt qua tháng năm lận đận. Cuộc sống dần trở nên bình an với nhiều niềm vui. Bà con quanh đảo luôn coi gia đình ông bà già là chốn thân thiện và năng qua lại. Họ cũng yêu hổ con và còn thường cho nó ăn cơm cá. Hổ con ngày một lớn lên và còn biết đi kiếm mồi về cho cha mẹ nuôi. Thời gian dần trôi. Hai người già mỗi ngày một đau yếu. Ông, bà lần lượt ra đi bỏ lại hổ con một mình trong cô đơn.

Hổ quanh quẩn bên hai nấm mộ của cha mẹ nuôi mỗi lần vào rừng kiếm ăn trở về. Dân làng quanh đảo lo sợ hổ sẽ hung dữ như bản tính sẵn có nên dần dần họ tìm cách đuổi hổ vào rừng. Họ đốt lửa và vây bắt hổ trong sự hoảng loạn. Hổ đành bỏ lại căn lều nhỏ và hai nấm mộ thân thương bên sông và trốn vào rừng. Nhưng cứ đêm đến là hổ lại tìm về mộ của cha mẹ nuôi nằm phủ phục cho tới sáng.

Nhưng rồi hổ cũng về già và gặp những rủi ro trong rừng sâu. Rồi một sớm tinh sương dân cù lao xôn xao vì thấy xác hổ nằm giữa hai ngôi mộ cha mẹ nuôi. Hai chân trước còn dang ra đặt lên mộ cha và mộ mẹ như một lời chia tay. Trong đôi mắt mở to của hổ vẫn còn đọng những giọt buồn trong vắt như nước sông Hậu hiền hòa. Lúc này mọi người mới cùng nhau chôn cất hổ bên mộ ông bà già và lập đền thờ bởi cảm động vì hiếu nghĩa của hổ với con người. Từ đó họ đặt tên quê hương là Cù lao Ông Hổ. Cho dù sau này cù lao đã trở thành một xã đảo Mỹ Hòa Hưng nhưng dân quanh vùng vẫn truyền tụng với cái tên: “Cù lao Ông Hổ giữa sông/ Chuyện xưa nổi sóng mênh mông nghĩa tình”.

Những con mắt từ nay thôi khóc

Người kể chuyện chấm dứt câu cuối cùng khi chuyến phà vừa cập bến Cù lao. Chiếc cầu phà bồng bềnh trên sóng nước bên những cụm hoa súng mới nở. Thật bất ngờ với chúng tôi đầu tiên không phải tới đền thờ Ông Hổ mà tới thẳng khu lưu niệm bảo tàng Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980). Đoàn học sinh cũng tới đây xong mới tản về các địa điểm cắm trại trên vùng đồng cỏ quanh xã Mỹ Hòa Hưng.

Cù lao Ông Hổ chính là quê hương của cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Ngôi nhà Chủ tịch cất tiếng chào đời vẫn còn đó bên đường làng ấm áp. Người dân thường gọi Chủ tịch với cái tên thân thương: Cậu Hai Thắng. Cho dù rời đảo đi khắp bốn phương hoạt động cách mạng hoặc bị bắt cầm tù nơi Côn Đảo, cậu Hai Thắng luôn nhớ về cù lao. Vẫn còn đó vại nước bên cây cau cao vút. Và kia là cánh võng tuổi thơ luôn vang lên câu hò điệu ru bên sông Hậu. Trong dân gian bài ca cải lương luôn vang lên trong lòng người bày tỏ nỗi niềm thương nhớ: “Mùa hè ở Mỹ Hòa Hưng bông Ô Môi thắm đỏ/ Bác hướng xa đôi mắt nhớ một đời/ Đôi mắt nhớ Ô Môi/ Đôi mắt nhớ một trời An Giang/ Bác Tôn là của chúng con/ Bởi đôi mắt Bác nhớ thương thật đầy…”.

Sau này khi trở thành Chủ tịch nước, bác Tôn Đức Thắng vẫn nóng lòng trở về đất mẹ. Trong phòng lưu niệm vẫn còn lưu giữ tấm ảnh con tàu Giang Cảnh đã đưa bác Tôn về Cù lao Ông Hổ ngay sau khi miền Nam được giải phóng. Đặc biệt, chiếc máy bay mang số hiệu YAK-40 chở bác Tôn về TP Hồ Chí Minh dự đại lễ mừng thống nhất đất nước cũng được trưng bày tại đây. Chung quanh bảo tàng là những hình ảnh và di vật minh chứng cho những chặng đường lịch sử hoạt động cách mạng của cuộc đời Chủ tịch Tôn Đức Thắng.

11-đi chợ nổi long xuyên.jpg -1
Đi chợ nổi Long Xuyên.

Chúng tôi bất ngờ dừng chân trước tấm hình lớn in bài thơ “Bài ca Hắc Hải” của cố thi sĩ Nguyễn Đình Thi viết về cuộc đời của bác Tôn. Đây là hình ảnh tráng lệ về người anh hùng Tôn Đức Thắng trong cuộc khởi nghĩa của các thủy thủ trên chiến hạm Paris. Câu chuyện xảy ra ở cảng biển Ô đét xa vào năm 1918 khi mọi người lên tiếng ủng hộ Cách mạng tháng mười Nga. Khi ấy thủy thủ Tôn Đức Thắng là thợ sửa chữa đầu máy. Anh đã dũng cảm leo lên cột tàu để treo cờ cách mạng biểu thị ý chí cách mạng và lòng yêu nước khao khát giải phóng dân tộc.

Bài thơ của Nguyễn Đình Thi đã đi sâu vào lòng người đọc ngay cả khi chúng tôi còn là học sinh phổ thông cũng đã được học. Cho dù năm tháng đã đi xa nhưng bài thơ vẫn vang lên ở đâu đó và ngay cả lúc này trên Cù lao Ông Hổ: “Hạ hết những lá cờ chết chóc/ Đời xích xiềng đạp xuống biển khơi/ Những con mắt từ nay thôi khóc/ Kéo lên cờ Cách mạng tháng Mười”. Và hình ảnh thủy thủ Tôn Đức Thắng lừng lững trên biển khơi: “Anh chạy tới cột cờ cao nhất/ Anh băng mình thoăn thoắt leo nhanh/ Bóng anh trên trời sâu hút/ Giữa gió gầm lồng lộng vùng quanh”.

Thương em thương tiếng rao mời

Chợ nổi Long Xuyên cũng xuất phát từ bến Ô Môi kéo dài chừng hai cây số. Sau khi rời chùa Ông Hổ chúng tôi chia nhau theo các ghe nhỏ xuống bến. Chợ nổi Long Xuyên khác hẳn những chợ nổi miền Tây khác ở sự chậm rãi và luôn vang vọng những câu hò điệu lý. Người lái đò cho chúng tôi là chị Nhung luôn nở nụ cười và hồn nhiên cất tiếng hát. Những tàu hàng lớn chất đầy dừa và chuối náo nức vận chuyển xuống các thuyền nhỏ. Họ bán mua rả rích cả mấy ngày mới hết hàng.

Ngay cả những chàng thương hồ cũng mau miệng đối lại những câu hò trên sông nước Hậu Giang. Từ Cù lao Ông Hổ chúng tôi đã nghe một giọng hò cất lên ngọt lịm: “Hò ơ…Long Xuyên nước ngọt gió hiền/ Tàu xuôi Nam Hải ngược miền Nam Vang/ Thương hồ chiếc dọc chiếc ngang/ Tiếng rao lảnh lót nhịp nhàng chèo khua”. Thế là chị Nhung bất ngờ đối lên mấy lời: “Em về em dọn một bữa cơm, để người quân tử, hò ơ…/ Để người quân tử ăn còn nhớ quê”.

Lúc này tôi mới chợt nhớ vì sao mà cố thi sĩ Trịnh Bửu Hoài (nguyên Chủ tịch Hội văn nghệ An Giang) đã từng viết: “An Giang ơi/ Chưa qua đã nhớ/ Điên điển vàng/ Rực một bến sông/ Hoa như cánh bướm về tương ngộ/ Với mùa nước nổi/ Chạm mênh mông” (An Giang). Ai nấy đều hòa trong tiếng chào mời đon đả. Chị Nhung chèo đò lướt qua những con tàu bồng bềnh trên sóng nước. Tiếng hò lảnh lót vang lên đầu từ mũi thuyền từ phía xa: “Miền Tây chín nhánh sông dài/ Long Xuyên chợ nổi nhớ hoài ai ơi/ Thương em thương tiếng rao mời/ Hậu Giang lấp lánh nụ cười chín cây”. Cứ thế chúng tôi lặng đi ngắm những “nụ cười chín cây” đang bủa vây như quăng lên một tấm lưới sáng lấp lánh trên sông Hậu Giang.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).