Những "vân đá" kiêu hãnh trong cô đơn

Đọc bài thơ “Con thú”, rồi đến mới đây nhất là "Rỗng không" của nhà văn Như Bình in trên Báo Nhân dân cuối tuần số ra ngày 19/9/2020, tôi giật mình. Dù chưa hề gặp mặt nhà thơ, tôi vẫn như đang nhìn thật rõ "chân dung tâm hồn" tự họa đẹp, cô đơn, kiêu hãnh và cũng đầy mâu thuẫn của người Thơ này.

Nữ sĩ Xuân Quỳnh từng viết rất hay về những đối cực đầy giằng xé, mâu thuẫn trong tâm hồn phụ nữ đang yêu:

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

(Sóng)

Biểu tượng Rỗng không trong Phật giáo.
Biểu tượng Rỗng không trong Phật giáo.

Cũng miêu tả trạng thái mâu thuẫn đầy giằng xé trong tâm hồn phụ nữ vì những hụt hẫng, mệt nhọc, những khát vọng bị kiềm tỏa nhưng ở một cấp độ dữ dội hơn, Như Bình có một ước muốn thật lạ lùng. Đó là ước muốn được "Rỗng không" để hóa thân vào thiên nhiên:

Đôi khi em muốn mình rỗng không
Ngay cả mảnh áo nhỏ xíu cuối cùng,
em cũng muốn bỏ lại nốt.

Hai câu thơ đầu diễn tả một ước muốn độc đáo bằng thư pháp tượng trưng: - ước muốn được "Rỗng không" đến tột độ, tận cùng. Hình ảnh "Ngay cả mảnh áo nhỏ xíu cuối cùng em cũng muốn bỏ lại nốt" không hề tả thực mà chỉ tượng trưng cho khao khát buông bỏ mọi ràng buộc, hư danh, mọi phù phiếm, che đậy, trang trí bề ngoài, để thực hiện một ước muốn mới đọc qua tưởng lạ lùng:

Rỗng không, em trườn vào gió
Tan vào đất
Hoá thành sông em bơi đổ ra nguồn.
Rỗng không, em bay như những vệt mây
Em đổ vàng như những triền nắng óng
Em lạnh tăm như nước đáy hồ
Ngàn năm im lặng.

Sau khát khao trút bỏ mọi che đậy bên ngoài để được sống thật là mình mà không cần đeo "Mặt nạ", chủ thể trữ tình lại mong muốn "rỗng không" - một trạng thái Thiền của nhà Phật: - gạt bỏ tham, sân, si, để tâm trong và lặng. Mong ước được Thiền trong tâm ấy lại được đẩy lên một cấp độ cao hơn. Không chỉ "Rỗng không" để Thiền trong tâm mà còn trở về với hồn nhiên, tinh khôi khi hóa thân vào thiên nhiên nguyên sơ không vẩn đục. 

Có tới 6 hình ảnh thiên nhiên xuất hiện trong khát vọng này, vừa động, vừa tĩnh, nhưng đều có chung một đặc điểm: - Tự do và trong lành, đẹp tới tận cùng. Đó là các hình ảnh: - Gió, đất, sông, vệt mây, nắng nóng, nước đáy hồ ngàn năm im lặng. 

Hai trạng thái động và tĩnh của các hình ảnh thiên nhiên kể trên đã thấp thoáng một mâu thuẫn trong tâm hồn nữ sĩ: - Vừa muốn giấu mình đi, chìm sâu vào đời, sống nội tâm như đất, như nước đáy hồ ngàn năm im lặng, vừa muốn sống hồn nhiên, tự do, hướng ngoại như gió, sông, mây, nắng. 

Mâu thuẫn này có trong tất cả chúng ta, đặc biệt ở những tâm hồn nghệ sĩ: - Vừa khát khao buông bỏ trước sự xô bồ, hỗn tạp của đời sống xung quanh, vừa muốn nắm giữ, chiếm lĩnh những đỉnh cao mơ ước.

6 câu thơ tiếp vừa bộc lộ khát vọng thứ hai mãnh liệt hơn vừa hé mở chân dung tâm hồn của nhà thơ một cách chân thật và điển hình nhất.

Rỗng không em đặc vào như đá
Ròng một khối câm, nín thinh, tinh khiết, náu
trong triệu triệu năm
Em trườn khỏi núi như những vân đá đòi phơi
 dưới ánh nắng mặt trời
Ai bảo núi đá không rỗng không, ảo ảnh?

Chỉ khi nào cô đơn mà kiêu hãnh tột cùng mới xuất hiện khát vọng khẳng định, phô bày những giá trị ẩn kín của riêng mình như thế. Câu chữ được nén chặt đạt tới độ hàm súc. Những thi ảnh giàu sức gợi, như những viên đá đẹp và lạ ném vào vùng liên tưởng của người nghe, tạo ra những vòng sóng đồng cảm lan tỏa tới vô cùng. 

Hình tượng "Đá" cùng những biến thể hết sức cô đơn của nó chạy dọc khổ thơ, tạo thành một liên kết "Đá" suy tư và mơ mộng. Một "liên kết đá" đặc biệt, vừa hợp lí vừa phi lí theo lôgíc của thi ca với những "Bước nhảy cóc" liên tưởng gần và xa. 

Đã "Rỗng không" sao lại còn có thể "em đặc vào như đá"? Thì ra "Rỗng không" là để loại bỏ mọi "Tạp chất" cho tâm hồn trở về thanh sạch, để rồi tâm hồn ấy nhận vào trong đó bao ngọt lành trong trẻo của thiên nhiên, trở thành "khối câm, nín thinh tinh khiết", đã câm lặng, đã ngủ yên trong quên lãng, thờ ơ "náu trong triệu triệu năm". 

Cái nhìn mơ mộng của nhà thơ đã vật chất hóa, hình tượng hóa tâm hồn thành khối đá tinh khiết "nín thinh" trong không gian và thời gian, và có lẽ từ trong tiền kiếp xa xăm mà trở về, hiện diện với hôm nay, giờ khát khao được bộc lộ vẻ đẹp chìm khuất của nó dưới mặt trời và trong mắt thế nhân. Mâu thuẫn từng xuất hiện ở khổ thơ đầu giờ trở lại, da diết và cháy bỏng hơn:

Em trườn khỏi núi như những vân đá
đòi phơi dưới ánh mặt trời  

Vẻ đẹp chìm khuất trong thời gian vô thủy vô chung, trong vũ trụ bao la vốn nhiều vô cảm này, giờ lên tiếng đòi được khẳng định giá trị của nó. Những "vân đá" - một hình ảnh đắt giá, ám gợi tượng trưng cho vẻ đẹp bền vững, vốn hay bị thờ ơ giờ đòi được phát lộ rực rỡ dưới ánh mặt trời.

Giờ đây "Rỗng không" đòi được hiện diện sáng rõ và được khẳng định. Dòng tâm trạng như sóng biển ào ạt vô cùng, lúc lặng lẽ khước từ lúc da diết mong ước, lúc buông bỏ lúc khao khát yêu thương níu kéo. Chỉ có tâm hồn phụ nữ mới có được bao biến thiên tinh tế, mâu thuẫn trong sự thống nhất, phi lí mà hợp lí đến thế. Nhưng than ôi! Chỉ có tri âm mới nhận ra vẻ đẹp của "Vân đá" mà thôi. Câu chuyện "Viên ngọc Biện Hòa" chẳng là một ví dụ chua xót hay sao?

7 dòng thơ kết như là lời giải thích bằng thơ của chủ thể trữ tình cho những mâu thuẫn giằng xé kể trên, tuy những nghịch lí - đối cực ấy đẹp và nhân văn vô cùng.

Đôi khi trái tim mệt nhọc
Trái tim mỏi mòn đòi cơn đơn ca hoan lạc
Trái tim tuột khỏi lồng ngực
Lạc lối đi hoang

Em ước gì mình rỗng không
Rỗng không như mùa về rùng mình trút vào một
cơn gió rụng.

Chủ thể trữ tình lí giải cho những khát vọng mãnh liệt, đi cùng những mâu thuẫn nội tâm kể trên là do "Đôi khi"… - Câu mở đầu và câu kết của bài thơ đều bắt đầu bằng từ "Đôi khi". Ẩn giấu trong đó là thân phận hàng triệu phụ nữ, tự nguyện hoặc không tự nguyện giam mình trong bổn phận, trách nhiệm, tự "cầm tù" bao ước mơ của mình, dù "đôi khi" muốn "nổi loạn". 

Như Bình đã nói hộ bao phụ nữ về bi kịch tinh thần ấy, qua hình tượng "Trái tim mệt nhọc". Trái tim ấy đã "mỏi mòn", đã "lạc lối đi hoang"…, dù đấy chỉ là một vài khoảnh khắc "lóe sáng" của một "vì sao" cam chịu giấu mình sau đám mây, nổi sóng của khúc sông vốn đã quen ngoan ngoãn ngủ vùi giữa đôi bờ chật hẹp, biết mình sẽ không bao giờ ra đến biển ước mơ. 

Bài thơ không hề nhắc đến "Cô đơn" nhưng nỗi niềm ấy xuyên thấm vào chữ đầu tiên đến chữ cuối cùng, giờ hiện diện trong câu thơ kết: "Rỗng không như mùa về rùng mình trút vào một cơn gió rụng". Đây là một hình tượng lạ, mang tính đa nghĩa. Nhưng gắn với cảm hứng toàn bài, cây tâm hồn ước ao rũ bỏ lá cũ ấy, cô độc, dũng cảm và kiêu hãnh nhưng cũng buồn thảm biết bao. Vì cây làm sao trút bỏ được số phận của mình. 

Cây xanh đẹp biết bao nhưng cũng nhọc nhằn gánh nặng biết bao. Cây tâm hồn kia "nổi loạn" để được sống thực là mình, cho mình, nhưng chỉ "đôi khi" thôi, rồi lại trở về cùng bổn phận. Vậy thì cây ơi, cây có cô đơn và buồn đau không? Để kết lại bài viết này, tôi xin gửi tới những "Vân đá" luy linh và thầm lặng kia hai câu thơ:

Vân đá đợi triệu năm rồi
Tri âm bật khóc, người đời giẫm chân.

Nữ văn sĩ Như Bình.
Nữ văn sĩ Như Bình.
  Như Bình

  Rỗng không

Đôi khi em muốn mình rỗng không
Ngay cả mảnh áo nhỏ xíu cuối 
cùng, em cũng muốn bỏ lại nốt
Rỗng không em trườn vào gió
Tan vào đất
Hóa thành sông em bơi đổ
ra nguồn

Rỗng không em bay như những
vệt mây
Em đổ vàng như những triền
nắng óng
Em lạnh tăm như nước đáy hồ
Ngàn năm im lặng

Rỗng không em đặc vào như đá
Ròng một khối câm nín thinh, tinh
khiết, náu trong triệu triệu năm
Em trườn khỏi núi như những vân 
đá đòi phơi dưới ánh nắng mặt trời
Ai bảo núi đá không rỗng không,
ảo ảnh?

Đôi khi trái tim mệt nhọc
Trái tim mỏi mòn đòi cơn đơn ca
hoan lạc
Trái tim tuột khỏi lồng ngực
Lạc lối đi hoang

Em ước gì mình rỗng không
Rỗng như mùa về rùng
mình trút vào một cơn gió rụng.

                            Ninh Bình ngày 29/8/2020

PGS-TS Nguyễn Đức Hạnh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).