Đọc "Nhặt lại tháng ngày rơi", thơ Trần Trương, NXB Hội Nhà văn, 2018

Những trải nghiệm cuộc đời trong "Nhặt lại tháng ngày rơi"

Thơ tình của Trần Trương ngọt ngào, dẫn dắt trái tim độc giả cùng tận hưởng vị ngất ngây tình yêu tươi đẹp mang lại, đôi lúc lại ngậm ngùi nếm vị đắng của tình yêu...

Mặc dù không dành nhiều "đất" cho những bài thơ về tình yêu đôi lứa, nhưng thơ tình của Trần Trương với nhiều cung bậc cảm xúc, có lúc nhẹ nhàng, lãng du, có khi nồng nàn, say đắm, khi thì cuồng nhiệt, cháy bỏng: "Ngồi bên em giây phút ngọt ngào/ Ly cà phê quên đường không đắng/…/ Chưa bao giờ, chưa bao giờ như vậy/ Cà phê thơm câu chuyện chúng mình/ Trên tất cả bất ngờ… chim hót/ Cà phê chỉ là cái cớ, phải không em?" (Cà phê em).

Khi yêu, Trần Trương yêu bằng cả con tim, Anh không ngần ngại bộc lộ tình cảm chân thành ấy: "Tôi về Tuyên cùng phố núi cao xanh/ Bởi thương quá có một người em gái/…/ Và uống mãi như thắm vào ché rượu/ Mối tình xa nghiêng với vít tay cần/ Rồi lửa nữa cứ bập bùng thao thức/ Với mắt người con gái đắm trong tôi/ Không phải đâu con nai vàng ngơ ngác/ Tóc em thơm cho gió cuốn bồi hồi/…/ Tôi cúi xuống trong bộn bề sắc lá/ Nhặt vô tình thấy bóng lá hình em/ Ướt sương chiều lóng lánh/ Mình lạc vào xứ Tuyên…".

Hình ảnh người con gái hiện ra trong hơi men, trong chiếc lá và… trong tất cả. Chỉ có trái tim yêu chân thành, yêu cuồng nhiệt như anh mới có thể nhìn thấy bóng hình người mà mình yêu như vậy.

Ở một cung bậc cảm xúc khác, Trần Trương mang lại cho thơ sự ngậm ngùi, tiếc nhớ: "Giờ đây em đã có chồng/ Anh đi về phía người không hẹn người" (bài "Em đã có chồng"). Cái chuyện thất tình chẳng lạ gì, thậm chí, hầu như ai trong đời cũng từng nếm trải tâm trạng đó. Chính vì vậy, những bài thơ viết về tâm trạng, nỗi niềm của con người trong lúc thất tình chẳng hề hiếm gặp. Vâỵ mà tác giả vẫn tạo ra một nét riêng trong sự thất tình của mình "phía người không hẹn người".

Và đây nữa, một trạng thái thất tình của Trần Trương đã gây ấn tượng với độc giả ngay từ lần đọc đầu tiên: "Con đường cũ nơi hẹn hò ngày ấy/ Khi trở về em bỏ đi xa/ Chỉ còn lại hương thơm nỗi nhớ/ Chẳng bao giờ làm mới được hồn ta" (bài thơ "Con đường cũ").

Những người con gái trong thơ Trần Trương, mỗi người mang một vẻ đẹp, phong cách khác nhau, nhưng ai nấy đều đầy sức cuốn hút. Các "nàng thơ" của Trần Trương khi thì đẹp mong manh, lãng mạn "Em cầm sen trắng như mây ấy/ Thu chở heo may hết ngõ gầy" (bài thơ "Giao mùa"), lúc lại dịu dàng, đằm thắm "Mắt cô đăm đắm đen lay láy/ Dịu dàng lơ lửng dưới hàng mi" (bài "Cô giáo trường làng"), khi lại pha trộn giữa sự điềm đạm với nét lãng đãng: "Em điềm đạm giữa ồn ào biển cả/ Một thoáng cười như nét thả duyên riêng/ Anh nhận ra một chút buồn nơi đó/ Mà xôn xao ngọn gió thổi tóc mềm" (bài "Em trước biển"), lại có khi mang vẻ đẹp cuồng say, tươi mới: "Em thì trẻ như cơn gió lạ/ Cơn gió hoang ồn ã" (bài "Nghĩ về mình")…

Thơ tình của Trần Trương ngọt ngào, dẫn dắt trái tim độc giả cùng tận hưởng vị ngất ngây tình yêu tươi đẹp mang lại, đôi lúc lại ngậm ngùi nếm vị đắng của tình yêu.

Bên cạnh những vần thơ tình lãng mạn, tác giả còn dành nhiều "đất" để thể hiện tình cảm của anh với quê hương, đất nước và những triết lý sống.

Tình yêu quê hương, đất nước được anh khắc họa với vẻ đẹp rực rỡ của thiên nhiên và nét đẹp chân chất của con người. Anh đã rất tinh tế khi khai thác vẻ đẹp. Anh viết: "Sắc đỏ cháy lan ra chân trời/ Hoa đào nhấp nháy tựa sao rơi/ Những cô gái Mông cười như rắc hạt/…/ Bếp không bao giờ tắt lửa/ Người Mông không có khái niệm bỏ nhau/ Tiếng khèn thay lời nói/…". Cảnh sắc và con người Việt Nam tươi đẹp biết bao qua lăng kính đó.

Trong bài "Uống trà sen bên Hồ Tây", Trần Trương viết: "Thuyền chạy nghiêng ẩn vào lá sen bồng bềnh mặt sóng/ Búp nõn hồng dâng những đốm lửa bập bùng/ Nắng thả chiều mặt hồ mềm lụa/ Gió bâng khuâng ngây ngất hương trà/…/ Không gian tràn hương sắc/ Cái cao sang đâu chỉ chốn lâu đài/ Hương trà dìu câu hát/ Để một đời đắm say". Đẹp biết bao những búp sen hồng như đốm lửa, mặt nước hồ thì mềm như lụa… Một góc Hà Nội thơ mộng và thanh lịch hiện lên qua nét văn hóa trà đầy tao nhã.

Tình yêu của anh với quê hương đất nước còn thể hiện qua sự thương cảm  những phận người thấp hèn trong xã hội. Đó là những người ngụ cư nơi Bãi Giữa sông Hồng. Họ là những con người không nhà, không cửa, không quê hương, ở tứ xứ tụ về nơi Bãi Giữa, nhặt nhạnh những tấm gỗ, thanh tre lứa ghép lại thành nhà ở tạm, lênh đênh trên mặt nước.

Anh dành cho họ những dòng đầy xúc động: "Bất chợt Bãi Giữa sông Hồng/ Nhà tranh vách lứa gió mênh mông lùa/ Lênh đênh vài luống cà chua/ Nhấp nhô ngô mía đung đưa bí bầu/ Bóng người chẳng thấy nơi đâu/ Gót bàn chân bước ngấn màu phù sa/ Rằng ai không cửa không nhà/ Đợi mùa nước cạn lội ra bãi bồi…".

Đặc biệt, Trần Trương đặt cạnh nhau hai hình ảnh trái ngược trong cùng một Hà Nội khiến người đọc không khỏi cay khóe mắt "Ngoài kia phố xá đông người/ Con - thuyền - Bãi - Giữa vẫn bơi một mình". Những cảnh đời ở đây sống lầm lũi, tủi phận "Sống trên Bãi Giữa mảnh đời không tên"… Bằng trái tim nhân hậu, tác giả đã cảm hết được nỗi cơ cực của họ. Từng lời thơ, từng câu chữ ăm ắp hình ảnh đẹp mà bi thương, dội lên nỗi xót xa, lay động lòng người.

Khi nỗi ám ảnh về những phận người nhỏ bé trong thơ Trần Trương còn chưa nguôi day dứt, chúng ta lại gặp những triết lý sống trong "Nhặt lại tháng ngày rơi". Trần Trương phê phán những thói hư tật xấu, đề cao đức tính giản dị, khảng khái, chính trực và cũng không quên hướng đến tính nhân văn trong đời sống.

Trong bài "Có một điều", anh cười vào thói đời giả trá: "Có một điều như chẳng ai tin/ Nhưng lại là điều rất thật/ Điều thật thà duy nhất:/ Họ truyền tai nhau lời nói dối ngọt ngào".

Anh vạch trần sự bất công từ chính những người nắm cán cân công lý: "Búa nghị án gõ trên bàn nghị án/ Mà vẫn nguyên bóng tối giữa chân đèn". Đồng thời, anh bày tỏ khát vọng: "Trái tim đừng vô cảm/ Dẫu cuộc đời còn lắm oan khiên" (bài "Điều còn lại"). Và, "Đừng e ngại những dòng sông rộng lớn/ Rồi cuối cùng ra biển cũng hòa tan/ Hãy nồng nàn như ca dao giản dị/ Sẽ suốt đời sống mãi với nhân gian" (bài "Đừng vội").

Với gần 70 bài thơ, "Nhặt lại tháng ngày rơi" của nhà thơ Trần Trương vừa mang phong cách lãng mạn lại vừa chứa đựng hiện thực phê phán. Nhưng trên hết, hồn thơ của anh đậm tính nhân văn, lay động tâm hồn người đọc.

Thiên Linh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).