(Nhân đọc tiểu thuyết “Hừng Đông” của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, Nxb Văn học, 2020)

Những tia sáng màu hồng

Sau tiểu thuyết “Chuyện tình Khau Vai” (2019), “Hừng Đông” là cuốn tiểu thuyết thứ hai của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ (nộp lưu chiểu tháng 12-2020), tôi dùng tên chương 11 trong tiểu thuyết “Hừng Đông” làm nhan đề bài viết “Những tia sáng màu hồng” – phản ánh một chủ nghĩa lạc quan cách mạng cao cả của một thế hệ kim cương suốt đời tận hiến cho sự nghiệp chung với tinh thần “dĩ công vi thượng”.

Nhà cách mạng tiền bối Phan Đăng Lưu (1902-1941) là một hình tượng văn học điển hình, biểu trưng cho vẻ đẹp tâm hồn, khí phách của người chiến sỹ cách mạng. 

Tiểu thuyết viết về một thời đại bi hùng bão táp cách mạng Việt Nam; viết về nhân vật lịch sử Phan Đăng Lưu, một nhà hoạt động cách mạng tiền bối của Đảng (Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng,1938) là một đóng góp của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, góp vào kho tàng văn chương viết về các bậc kiệt xuất của Đảng từ lãnh tụ Hồ Chí Minh đến các học trò xuất sắc của Người trong sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc thời kỳ hiện đại.

Dòng văn chương về đề tài truyền thống (lịch sử, cách mạng, chiến tranh) có xu hướng được kéo gần lại, xét về mặt thời gian, đó là những biến cố của thời hiện đại (thế kỷ XX). Vì sao? 

Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ.
Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ.

Câu hỏi có thể được đặt ra trong trường hợp này. Có thể có câu trả lời như sau: Hiện chúng ta đang đứng trước những vấn đề rất nhạy cảm của chủ quyền lãnh thổ, những vấn đề về các thang giá trị văn hóa, đạo đức đang có nguy cơ xuống cấp, tinh thần đoàn kết giảm sút nơi này, lúc khác khiến cho phân tán lực lượng, suy giảm sức mạnh cộng đồng. Vì thế chúng ta cần tìm những câu trả lời cho hiện tại từ quá khứ gần. Đó là động hướng tinh thần “ôn cố tri tân” cần thiết và cấp bách hiện nay.

Tiểu thuyết “Hừng Đông” viết về phong trào cách mạng Việt Nam những năm trước thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) và sau đó khoảng 10 năm đến cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940). Trên cái nền rộng (toàn cảnh) ấy, nhà văn không chạy theo sự kiện, biến cố (vì nếu làm như thế thì không thể bao quát hết lịch sử), mà hướng tới con người cụ thể với tư cách một nhân vật văn học – người chiến sỹ Cộng sản Phan Đăng Lưu. 

Ai đó nói chí lý “Không phải là nhà viết sử, chính nhà văn mới là người chép lại lịch sử cuộc đời”. “Hừng Đông” của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ phù hợp với lối cấu trúc tiểu thuyết hiện đại: đi từ “cấu trúc lịch sử - xã hội” đến “cấu trúc lịch sử - tâm hồn” (từ chương 1 “Bình minh bầm tím” có bức thư viết bằng tiếng Pháp của Phan Đăng Lưu gửi con trai trước lúc lên pháp trường, đến chương 11 “Những tia sáng màu hồng” với những giây phút cuối cùng trên pháp trường).

Phan Đăng Lưu là nhân vật chính trong tiểu thuyết. Viết “Hừng Đông”, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, theo tôi, phải giải quyết mối tương quan giữa nhân vật “tập thể” và “cá thể” theo yêu cầu điển hình hóa (con người này như Heghen đã nhấn mạnh). Phan Đăng Lưu không thể thoát ly khỏi gia đình (bố mẹ, vợ con), bạn bè, đồng nghiệp, đồng chí, quê hương làng xóm. 

Tất nhiên. Nhưng đây là nhân vật văn học Phan Đăng Lưu, nên phải có cá tính, số phận như một điển hình nghệ thuật. Nhân vật này đã đi suốt tác phẩm từ trang đầu đến trang cuối. Trong nhân vật này riêng, chung hài hòa, bện chặt, tương hỗ,... 

Con người xã hội của nhân vật Phan Đăng Lưu rất rõ. Thoạt đầu là con người công chức, học hành bài bản, làm công ăn lương. Vào thời kỳ những năm 20 của thế kỷ XX, tốt nghiệp Trường Nông nghiệp thực hành, trở thành kỹ sư canh nông, trước đó đã học ở Trường Quốc học Huế, học hành đến nơi đến chốn, đỗ đạt như thế, là chuyện hiếm thời ấy. Anh bước vào cuộc đời hoạt động cách mạng kể từ khi gặp gỡ thầy giáo Trần Văn Tăng (một chiến sỹ cách mạng hoạt động bí mật). 

Bước chân của Phan Đăng Lưu từ “Đời cách mạng, từ khi tôi đã hiểu/ Dấn thân vô là phải chịu tù đày/ Là gươm kề tận cổ, súng kề tai/ Là thân sống chỉ coi còn một nửa” (Tố Hữu), đã in dấu từ Bắc chí Nam, sang tận Trung Quốc,... Phan Đăng Lưu là con người chí lớn, gan bền, cao vọng lập thân, lập nghiệp vì nghĩa lớn – đất nước độc lập, tự do; nhân dân no ấm, thái bình. 

Tác giả đã khéo léo đặt nhân vật Phan Đăng Lưu trong mối quan hệ rộng và sâu với nhiều nhân vật khác thuộc nhiều khuynh hướng chính trị và mục đích dấn thân khác nhau như Phan Bội Châu, Ngô Đình Diệm,... cũng như các đồng chí cùng chung chí hướng của mình như Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Tôn Quang Phiệt, Hải Triều, Nguyễn Chí Diểu, Lê Duẩn,... Mỗi nhân vật xuất hiện ít hay nhiều, có vị trí xã hội khác nhau nhưng đều như những thỏi nam châm cực mạnh hút nhau tạo thành một “từ trường” đặc biệt.

Bìa tiểu thuyết “Hừng Đông” của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ.

Bìa tiểu thuyết “Hừng Đông” của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ.

Nhưng nếu thiếu cái riêng, cái cá thể hóa, thì tiểu thuyết “Hừng Đông” chỉ có thể dừng lại tư liệu – lịch sử, khó bề nhập vào địa hạt văn chương. Người đọc lúc đó sẽ tìm hiểu nhân vật Phan Đăng Lưu qua hồ sơ lưu trữ lịch sử quốc gia. 

Tôi thích cách tác giả cá thể hóa nhân vật qua chuyện riêng tư, đời thường, qua thế giới nội tâm phong phú của một con người kết hợp trong mình các phẩm tính của một trí thức - chiến sỹ cộng sản - một nhân cách có căn cốt văn hóa trong ứng xử với gia đình, vợ con, bạn bè, với tự nhiên. 

Phan Đăng Lưu giỏi ngoại ngữ nên có điều kiện đi ra thế giới qua sách vở, chữ nghĩa. Con người này vừa hướng ngoại vừa hướng nội. Tôi thích cách tác giả tả gia cảnh của Phan Đăng Lưu trước và sau khi lấy vợ. 

Chị Danh, người vợ yêu quý của Phan Đăng Lưu là người phụ nữ truyền thống, tam tòng tứ đức, công dung ngôn hạnh. Chị là mẹ của hai con, là vợ của người chồng ở chốn tranh đấu sa trường nhiều hơn trong gia đình riêng của mình. Phan Đăng Lưu làm sao có thể yên lòng với hậu phương của mình nếu không có một người vợ hiền thục, dâu thảo trong nhà như chị Danh. 

Bao nhiêu gian khổ của nhà chồng và gia đình riêng chị giành chuyển gần hết sang đôi vai bé nhỏ của mình. Kể cả cái đơn ly hôn giả mạo (đánh lừa bọn giặc) mà chồng nghĩ ra để bảo toàn cho vợ con khi anh phải dấn thêm một bước vào chốn hiểm nguy trên đường tranh đấu, cũng chỉ mình chị chịu đau đớn. Người ta nói, đằng sau một người đàn ông thành đạt có bóng dáng một người phụ nữ là hoàn toàn đúng trong trường hợp này.

Đặc trưng nghệ thuật của truyện (truyện ngắn, truyện dài) là kể (tự sự). Nhưng có một văn mạch, tạm gọi là “tự sự trữ tình”, trong đó kể và gợi liên kết hữu cơ, chất văn xuôi và chất thơ kết dính. Mở đầu thời hiện đại là Hoàng Ngọc Phách, Thạch Lam, Đỗ Tốn, Thanh Tịnh... trước 1945. Sau này là Nguyễn Thành Long, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Bản, Đỗ Chu,  Trần Thùy Mai, Huỳnh Thạch Thảo, Nguyễn Thế Hùng, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Quang Thiều, Như Bình,... Tôi nghĩ, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ đứng vào văn mạch này một cách tự giác (hoặc không tự giác). 

Đặc điểm của văn mạch “tự sự trữ tình” là không trọng cốt truyện (tình tiết/chi tiết) mà hướng đến “tìm vào nội tâm”, chú ý tới mối liên hệ của con người với tự nhiên, dung chứa những trữ tình ngoại đề gợi liên tưởng thú vị. 

Đọc “Hừng Đông” của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, tôi thích những đoạn trữ tình ngoại đề, kiểu như: “Phan Đăng Lưu trở về quê nhà Yên Thành vào giữa mùa hè. Cánh đồng đã gặt xong, lúa phơi vàng trên những mảnh sân, con ngõ. Gió phơn Tây Nam mà người dân quê anh gọi là gió Lào, thổi rạt những bờ tre, mái rạ. 

Dẫu vậy, Lưu cảm nhận trong đó có hương vị quá đỗi thân thuộc của thân cây lúa mới bị cắt bông, mùi chua chua của bùn đất và tiếng ve râm ran. Những thứ ấy, là cả một gia tài quý giá cho một người vừa thoát ra khỏi chốn lao tù cùng cực. 

Những ngày bị giam, kỳ lạ thay, thứ mà anh nhớ nhất lại là những ngọn khói. Bếp ở quê anh chủ yếu đun bằng rơm rạ (....). Phan Đăng Lưu nhớ gương mặt đỏ rực, bụi tro hòa lẫn những giọt mồ hôi của mẹ, khi đứng bên bậu cửa, tay cầm chiếc đũa cả còn dính mấy hạt gạo ướt. Trong bếp đã có mùi thơm thơm của cơm bén nồi, của cá kho tương với khế lẫn mùi của một ít hạt thóc lép cháy cùng với rơm, rạ” (tr.186). 

Trước lúc từ giã người thân, đồng chí, anh còn kịp nhận ra: “Phan Đăng Lưu cảm thấy trong gió sớm có mùi những bông lúa đang chín, thơm ngọt ngào. Anh nhớ những bữa cơm mới. Bữa cơm đầu tiên của một vụ gặt mẹ anh luôn cẩn trọng chuẩn bị như một thứ nghi lễ, thể hiện lòng biết ơn trời đất, tổ tiên đã cho con cháu sức khỏe cũng như mùa màng bội thu” (tr.286).

Những đoạn trữ tình ngoại đề này khác nào những bóng cây râm mát, nơi ta dừng nghỉ, trên con đường dài giữa một ngày nóng bức.

Hà Nội, 29-12-2020

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).