Những ngọn gió xuân...

Trong thần thoại Hy Lạp có 4 vị thần đại diện cho 4 ngọn gió đều là con trai của nữ thần Rạng đông Eos và thần Chiêm tinh Astraeus: Zephyrus - cơn gió tây của mùa xuân, Notus - cơn gió nam của mùa hè, Eurus - cơn gió đông của mùa thu và Boreas - thần gió bắc lạnh lẽo. Họ đem lại mưa gió thuận hòa, nhưng cũng có khi đem tới bão tố khủng khiếp.

Trong số này Zephyrus là vị thần “phong tình” nhất. Vào mùa xuân chàng thường hóa thành những con ngựa gió để giao phối với bầy ngựa cái sinh ra cả đàn ngựa con.

image001.jpg -0
Thần Gió Zephyrus và người yêu.

Zephyrus còn cưới nữ thần Cầu vồng Iris và sinh ra một người con trai là vị thần Đam mê Pothus. Lại có mối tình “ngoài lề” với nữ thần Hoa cỏ Chloris cùng làm cho đất đai màu mỡ và khí hậu ôn hòa, cây trái tốt tươi. Không chỉ vậy, còn đem lòng yêu chàng trai trẻ đẹp Hyacinthus. Không được đáp lại, Zephyrus nổi giận thổi bay chiếc vòng vô tình đập trúng đầu Hyacinthus. Tiếc thương một chàng trai chết oan, thần Apollo hóa Hyacinthus thành loài hoa dạ lan hương.

Như vậy người Hy Lạp cổ đã cắt nghĩa gió gắn liền với sự phong tình phồn sinh trong mùa xuân. Có lẽ xuất phát từ thực tế ngoài đời sống, khi mùa xuân đến, gió sẽ làm công việc thụ phấn cho các loài hoa. Cùng với các loài côn trùng khác gió xuân đủ nhẹ góp phần tạo ra ý nghĩa sinh sôi nảy nở này.

Nhờ được thiên nhiên ưu ái nằm giữa đại lục, đất đai tươi tốt, cây cỏ hiền hòa, phong phú các loài động vật, gió đi vào văn hóa Trung Hoa có tên Phong Bá (tên gọi khác là Phi Liêm, Phong Sư, Cơ Bá) - một hình tượng của Đạo giáo có thân nai, đầu chim, sừng hươu, đuôi rắn. Khi chạy thì hóa thân vào con báo. Vì vô hình vô ảnh nên gió được “hữu hình hóa” thành mô hình các con vật nhưng có mối liên hệ gần gũi. Như đúng với thực tế về báo chạy nhanh nhất trong các loài vật, đúng là “nhanh như gió” vậy.

Có sao chủ là sao Cơ - chòm bảy sao ở phương Đông, một trong 28 sao thiêng (Nhị thập bát tú), thần được hình dung là một ông lão đầu tóc bạc phơ, tay trái cầm “bánh xe gió”, tay phải cầm “quạt gió” xưng là “Phương Thiên Quân”. Đến đời Đường - Tống, Phong Bá được gọi là “Phong Di” (Dì Gió) cho mềm mại, nhẹ nhàng, và cũng phù hợp hơn với tiết xuân (xuân phong, đông phong). Trong thơ Đường Tống có nhiều những làn gió xuân thể hiện tâm trạng, nổi tiếng nhất ở bài "Đề đô thành Nam trang" (Thôi Hộ) có câu “Đào hoa y cựu tiếuxuân phong”. Ngọn gió xuân này thổi vào "Truyện Kiều" đọng lại câu thơ: “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”.

Qua hình tượng gió xuân cho thấy hai phong cách, phương Tây thiên về duy lý, thực tế, quan tâm nhiều hơn đến thiên nhiên; phương Đông thiên về duy tình, hướng sự chú ý vào mối quan hệ người với người, có tả thiên nhiên cũng là để nói đến con người (tả cảnh ngụ tình).

Trong văn chương Việt, Thiền sư Viên Chiếu (đời Trần) viết "Tham đồ hiển quyết" có những câu về gió xuân rất lạ: “Khô mộc phùng xuân hoa cánh phát/ Phong xuy thiên lý phức thần hương” (Cây héo vào xuân hoa nở đầy/ Gió đưa ngàn dặm nức hương thần). Một sự tương phản triệt để: cây (dù) khô nhưng gặp xuân thì nở đầy hoa, gió đưa hương thơm xa ngàn dặm. Càng đáng quý hơn đó tình yêu cuộc sống, cái đẹp, niềm lạc quan mạnh mẽ của một thi sĩ - thiền sư.

Bài "Cây chuối" của Nguyễn Trãi có cái nhìn khác: “Tự bén hơi xuân tốt lại thêm/ Đầy buồng lạ màu thâu đêm...”. Một cây chuối rất Việt Nam đầy sức sống vào mùa xuân! Rất có thể chịu ảnh hưởng từ bài "Vị triển ba tiêu" của Tiền Hử thời vãn Đường: “Đuốc lạnh không khói, ngọn nến xanh/ Nõn chuối thơm còn cuốn vì sợ cái rét xuân/ Phong thư còn giấu điều gì đó/ Gió xuân về lén mở ra xem” nhưng "Cây chuối" khác ở chỗ đón gió xuân ấm áp, nhất là cái nhìn “độc sáng” coi đó là bức thư tình thì thật mới. Trong bài "Hoa đào I", gió xuân của Nguyễn Trãi còn có tình như con người: “Một đóa đào hoa khéo tốt tươi/ Tường xuân mơn mởn thấy xuân cười/ Đông phong ắt có tình hay nữa/ Kiện tiển (quý vô cùng) mùi hương dễ động người”.

image002.jpg -1
Hoa đào năm ngoái...

Lê Đức Mao đỗ Tiến sĩ năm 1505 đời vua Lê Uy Mục có bài "Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào" (viết trước 1504) vui tươi, ngộ nghĩnh: “Mừng xuân, xuân yến, xuân ca/ Bốn dân mưa huệ, trăm nhà gió huân”. “Gió huân” chỉ gió mát phương nam thổi vào mùa xuân. Gió xuân không còn là “đông phong” nữa, mà là gió nam, đậm chất Việt hơn. Nhà thơ miêu tả niềm hân hoan trong hội xuân: “Ba làng vui vẻ ngày vui/ Tung ba tiếng chúc, gió mười dặm xuân/ Nhởn nhơ cõi thọ, nền nhân/ Vui lòng hy tạo, tụng ân bình hòa…”.

Hoàng Sĩ Khải đậu Tiến sĩ năm 1544 đời Mạc làm nhiều thơ, còn để lại "Tứ thời khúc vịnh". Khi tập đoàn Lê-Trịnh thắng nhà Mạc, ông làm thơ ca ngợi thời thịnh trị sắp đến: “Trường An xe ngựa rân rân/ Đâu đâu mừng thấy tiết xuân đã về/…Thiều quang phủ khắp gần xa/ Gió nhân hây hẩy khí hòa hây hây”. “Gió nhân” cũng là “gió xuân”, tức lòng người vui vẻ, hân hoan.

Làm bạn với các sứ giả Triều Tiên trong dịp đi sứ Trung Hoa, Lê Quý Đôn có bài thơ "Giản Triều Tiên quốc sứ Hồng Khải Hy, Phó sứ Triệu Vinh Tiến, Lý Huy Trung" (Viết gửi Chánh sứ Triều Tiên Hồng Khải Hy, Phó sứ Triệu Vinh Tiến, Lý Huy Trung) có hai câu cuối thật ý nhị: “Lữ hoài tịch diệp như hoa phiến/ Tân hướng xuân phong vị triển dương” (Tình lữ khách xếp chồng như nếp quạt hoa gấp lại/ Hướng về gió xuân được mở tung).

Theo các ghi chép, nhân sứ bộ Triều Tiên mời tiệc sứ bộ An Nam (tại Yên Kinh) và tặng các quà quý như thuốc, quạt giấy (đặc sản văn hóa Triều Tiên), Lê Quý Đôn làm thơ cảm tạ. Mượn hình ảnh cái quạt gấp lại, hướng về gió xuân thì nở tung (như hoa) nhà thơ ca ngợi tình bạn giao hảo hai nước vui vẻ như đón gió xuân hòa bình, hữu nghị, thân thiện, nồng ấm!

Phùng Khắc Khoan (1528-1613) làm quan lớn - Thượng thư bộ Công (1599), Thượng thư bộ Hộ (1602) rất thương dân. Ông làm thơ mỉa mai bọn nho sĩ ăn chơi chẳng quan tâm đến thời thế loạn ly: “Chí bình sinh (chỉ) mong được đi ngựa xem hoa lúc gió xuân/ Bắt chước hạng ăn chơi ở Trường An học món gà chọi để cầu phú quý” ("Nguyên đán". Thơ chữ Hán). Mượn “gió xuân” tái hiện không gian (mùa xuân) để châm biếm những kẻ gọi là có học mà vô cảm đua đòi, chơi bời trong khi dân tình đói khổ. Đó là điều đáng quý ở nhà thơ nhân đạo vì dân này.

Nguyễn Công Trứ nhất quán “hành đạo” với “hành lạc”, ưa tự do, chỉ muốn vượt ra ngoài những trói buộc khắt khe để “ngông nghênh”, “ngất ngưởng” với đời. Lẽ tự nhiên con người ấy bỏ ngoài tai những lời đàm tiếu thế gian để đi theo tiếng gọi cá nhân: “Khen chê phơi phới ngọn đông phong” (Bài ca ngất ngưởng)… “Đông phong” ở đây lại làm ẩn dụ cho dư luận, coi khen chê như gió thổi. Nhà thơ ngạo nghễ khẳng định bản thể: “Người có biết ta chăng thì chớ, chẳng biết ta, ta vẫn là ta”… Sống ở thời ngột ngạt, nhố nhăng, Tú Xương có bài Xuân hứng khát khao một sự đổi thay: “Một ngọn đông phong sẽ thổi phào/ Đông quân nhường tỏ lối ra vào”. “Đông phong” là gió xuân, “đông quân” tức mặt trời hay thần mùa xuân. Một gửi gắm mãnh liệt, dù xa xôi: cái mới thật lớn lao sẽ về…

Ở khu vực văn học dân gian, gió xuân thổi trong "Truyện Trinh thử" - một ngụ ngôn đặc sắc về chủ đề đề cao đạo lý nhân nghĩa thuỷ chung và phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy cạm bẫy. Một đêm Chuột Bạch đi kiếm mồi về nuôi con chẳng may gặp nạn liền chạy vào một hang nọ, ngẫu nhiên đấy là “nhà” của vợ chồng Chuột. Lúc này Chuột Cái đi vắng, Chuột Đực bèn đem lời quyến rũ, mồi chài, ve vãn, đe dọa. Chuột Bạch cũng cố gắng mềm mỏng, kiên quyết giữ mình…

Câu chuyện là “lời” của hai nhân vật với những “lớp” ngôn từ đối lập sinh động: ướm hỏi - phản ứng; thăm dò - khẳng định; mồi chài, lôi kéo - phủ định, vạch trần; tấn công - ngăn chặn… thật hấp dẫn. Lời Chuột Đực trau chuốt, bay bướm, văn hoa, đúng là lời của kẻ “tán gái” ỡm ờ: “Hay là nhắn cá gửi chim/ Đêm xuân đón gió đi tìm mùi hương”. Ngọn “gió” đêm xuân ở đây lại mang tính “trăng gió”… Chuột Cái đột ngột trở về. Thế là cái ghen “thường tình” nổi lên. Lời Chuột Cái ngoa ngoắt, chanh chua, đay nghiến, đanh đá nhưng cũng rất bóng bẩy, hoa lá…

Là một thuộc tính của mùa xuân, gió xuân luôn nhẹ nhàng, mát mẻ, lại là tác nhân của sự sinh sôi, nên được các thi nhân gửi vào đấy chất phồn thực phong tình. Có xuân là có gió. Gió xuân thổi nhiều hơn trong mảnh đất văn chương hiện đại, đa sắc thái, nhiều cung bậc, cấp độ hơn. Xin được dừng lại với những ngọn gió xuân trước thời trung đại.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).