Những dòng sông trong thi ca Việt

Việt Nam có lẽ là một trong những đất nước có mật độ sông ngòi dày đặc nhất trên thế giới. Trên khắp lãnh thổ từ Bắc chí Nam có tới hơn 2.300 con sông dài trên 10km và cứ di chuyển trung bình 20km thì ta lại bắt gặp một cửa sông. Dòng sông, vì thế với mỗi người Việt là một thứ gần gũi, thân thương, ai cũng có ít nhiều kỷ niệm. Và tự bao giờ, sông đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận của bao lĩnh vực nghệ thuật, trong đó có thi ca.

1.Trong cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ tổ chức năm 1969, trao giải năm 1970, có một bài thơ nằm trong chùm thơ được trao giải Nhì của thi sĩ Bế Kiến Quốc mang tên “Những dòng sông”. Trong bài thơ khá dài này, có hai câu thơ được lặp lại trong phần đầu và cuối như một chủ âm quan trọng của tác phẩm, dẫn dắt cảm hứng chủ đề của cả bài thơ: “Sinh ở đâu mà ai cũng anh hùng?/ Tất cả trả lời: Sinh bên một dòng sông…”.

Hai câu thơ này, có thể nói đã nằm trong hành trang ra trận của biết bao người lính, nhất là những thế hệ học sinh sinh viên nhập ngũ đầu thập niên 70 của thế kỷ trước. Những người lính tuổi mới đôi mươi ấy đã vào trận với cả dòng sông tuổi thơ của mình, dòng sông ấy gắn với quê hương làng xóm, gắn với gia đình bầu bạn thân yêu. Dòng sông ấy đã khiến cho tất cả những người lính trở thành những người anh hùng can trường trong mưa bom bão đạn.

sông hồng.jpg -0
Sông Hồng.

Chiến tranh kết thúc, cả đất nước bước vào một kỷ nguyên mới của hòa bình thống nhất, chúng ta lại được thấy nhiều hơn vẻ đẹp của những dòng sông trong một thời kỳ mới, thời kỳ dựng xây Tổ quốc. Nhà thơ Lai Vu trong một bài thơ đã mang đến cho người đọc hai vẻ đẹp tương phản của hai dòng sông cùng ở miền Bắc: sông Đáy và sông Đà: “Dòng sông Đáy quê em/ Sông trăng hay sông lụa/ Nong kén vàng như lúa/ Tròn vạnh một góc trời/…Dòng sông Đà quê anh/ Đá dựng ghềnh dựng thác/ Mênh mông ngàn sóng bạc/ Đàn voi đá nhấp nhô” (Dòng sông quê em, dòng sông quê anh). Bài thơ đã được nhạc sĩ Đoàn Bổng phổ nhạc thành ca khúc cùng tên nổi tiếng suốt gần nửa thế kỷ qua, có một đời sống rộng rãi trong lòng công chúng nghe nhạc.

Nhắc về những dòng sông của miền Bắc, không thể không kể tới sông Hồng, dòng sông quan trọng hàng đầu cho việc phát triển nông nghiệp ở vùng đồng bằng Bắc bộ. Sông Hồng vì thế đã trở thành một vẻ đẹp văn hóa, trở thành nỗi nhớ khôn nguôi cho những kẻ xa quê. Rất nhiều khi, nỗi nhớ Hà Nội đi cùng với nỗi nhớ sông Hồng: “Ngõ nhỏ phố nhỏ nhà tôi ở đó/ Đêm lặng nghe trong gió tiếng sông Hồng thở than” (“Hà Nội và tôi”, Nhạc và lời: Lê Vinh), “Tôi mong về Hà Nội/ Để nghe gió sông Hồng thổi/ Để thương áo len cài vội/ Một mùa đông rét mướt” (“Mong về Hà Nội” - Nhạc và lời: Dương Thụ).

2.Nếu như ở miền Bắc, sông Hồng có thể nói là dòng sông điển hình nhất, đã đi vào bao tác phẩm thi ca, thì ở miền Trung, dòng sông đi vào nhiều áng thơ nhạc nhất có lẽ là sông Hương. Từ thế kỷ 19, sông Hương đã đi vào thơ Cao Bá Quát với góc nhìn thật khác biệt của một bậc tài tử: “Trường giang như kiếm lập thanh thiên” (Hiểu quá Hương giang). Có lẽ, nhà thơ muốn mượn việc miêu tả dòng sông để thể hiện ý chí, khí phách của mình. Vì thế, dòng sông được ví như một thanh kiếm dựng giữa trời xanh, khác hẳn với nỗi buồn man mác của sông Hương trong một loạt các sáng tác sau này.

Trong hàng loạt các ca khúc được viết từ trước 1945 cho tới sau 1975, sông Hương đều hiện lên với những nỗi bâng khuâng nhớ thương về cảnh về người: “Ngày chia tay hôm nao còn đây/ Nước trên sông Hương còn đầy/ Tình đã xa gió mưa u hoài mắt lệ ngắn dài” (“Mưa trên phố Huế”: Minh Kỳ - Tôn Nữ Thụy Khương), “Dòng sông ai đã đặt tên/ Để người đi nhớ Huế không quên/ Xa con sông mang theo nỗi nhớ/ Người ở lại tháng năm đợi chờ” (“Dòng sông ai đã đặt tên” - Nhạc và lời: Trần Hữu Pháp).

Cùng với núi Ngự, sông Hương đã trở thành bản sắc của Huế, nhắc đến Huế là nhắc đến sông Hương và ngược lại, đúng như câu lục bát bất tuyệt của thi sĩ Bùi Giáng: “Dạ thưa xứ Huế bây giờ/ Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương”. Mỗi thi sĩ khi đến với sông Hương dường như đều muốn để lại một dấu ấn khác biệt trong những dòng thơ để lại: “Sông Hương hóa rượu ta đến uống/ Ta tỉnh đền đài nghiêng ngửa say” (Nguyễn Trọng Tạo). Thực và ảo, say và tỉnh hòa trộn lung linh chỉ trong hai câu thơ bảy chữ. Người đọc không chỉ thấy người quyến luyến cảnh mà cảnh dường như cũng đang níu bước người.

sông vàm cỏ đông.jpg -0
Sông Vàm Cỏ Đông.

Một điều đặc biệt thú vị là hầu hết những bài thơ hay về dòng sông đều được phổ nhạc thành các ca khúc nổi tiếng. Từ “Dòng sông quê anh dòng sông quê em” đã nhắc đến trong phần trước, cho tới “Tình yêu trên dòng sông quan họ” (Phan Lạc Hoa phổ bài thơ ''Đêm sông Cầu'' của Đỗ Trung Lai), “Đây thôn Vĩ Dạ” (Phạm Duy và Võ Tá Hân đều phổ nhạc) và “Tạm biệt Huế” (Xuân An phổ thơ Thu Bồn). Nhưng có một tác phẩm với hành trình từ thơ sang nhạc rất đặc biệt nữa, đó là “Khúc hát sông quê” (thơ Lê Huy Mậu, nhạc Nguyễn Trọng Tạo). Cả nhà thơ và nhạc sĩ đều là những người sinh ra và lớn lên ở Nghệ An.

Dòng sông trong bài thơ nguyên bản của Lê Huy Mậu vì thế có lẽ cũng thấm đượm hình bóng quê nhà miền Trung. Từ văn bản gốc gồm 88 câu thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã chắt lọc thành ca khúc với 13 câu, dồn đọng những hình ảnh mang tính khái quát và gợi cảm cao nhất về một dòng sông quê hương xứ sở.

Bài hát đã có một sức lan tỏa mạnh mẽ không chỉ ở trong nước mà còn đi đến khắp những quốc gia có người Việt sinh sống: “Quá nửa đời phiêu dạt, con lại về úp mặt vào sông quê/ Ôi con sông dạt dào như lòng mẹ/ Chở che con đi qua chớp bể mưa nguồn/… Sông còn nhớ chăng nơi ta ngồi ngóng mẹ/ Vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng/ Cùng một bến sông con trâu đằm sóng dưới/ Bầy trẻ thơ tắm mát phía thượng nguồn/ Một dòng xanh trong chảy mãi tới vô cùng”. Tác phẩm không cần nhắc đến một cái tên cụ thể của dòng sông mà có khi đó cũng là một điều hay, bởi ai cũng dễ dàng bắt gặp mình trong đó, ai cũng có cảm giác nhà thơ đang nói hộ lòng mình.

3.Chuyển sang những dòng sông của miền Nam, những con sông ở đây cho ta cảm giác rộng lớn mênh mang và trù phú về mặt tài nguyên, có lẽ một phần lớn do điều kiện địa lý tự nhiên ở đây. Vùng Đông Nam bộ có hàng loạt sông lớn như sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Thị Vải… Còn miền Tây Nam bộ thì hoàn toàn có thể di chuyển khắp 13 tỉnh thành bằng đường sông nước. Hoài Vũ có lẽ là một trong những nhà thơ miền Nam viết nhiều về những dòng sông hơn cả và không ít tác phẩm của ông được phổ nhạc thành những ca khúc nổi tiếng.

Chỉ tính riêng các bài thơ liên quan đến dòng sông được phổ nhạc, Hoài Vũ đã có ba bài thơ được công chúng biết đến rộng rãi, đó là bài “Vàm Cỏ Đông” được nhạc sĩ Trương Quang Lục phổ nhạc thành ca khúc cùng tên, bài “Gửi miền hạ” được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc thành ca khúc “Anh ở đầu sông em cuối sông” và bài “Thì thầm với dòng sông” được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc thành ca khúc cùng tên.

Hình ảnh sông Vàm Cỏ trở đi trở lại trong các bài thơ của Hoài Vũ, ở đó ta gặp những nhớ thương chờ đợi của đôi lứa yêu nhau trong thời chiến, những hẹn thề son sắt thủy chung, niềm tự hào về quê hương và lòng yêu nước căm thù giặc: “Anh ở đầu sông em cuối sông/ Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông/ Thương nhau đã chín ba mùa lúa/ Chưa ngày gặp lại nhớ mênh mông” (Gửi miền hạ), “Ở tận sông Hồng em có biết/ Quê hương anh cũng có dòng sông/ Anh mãi gọi với lòng tha thiết/ Vàm Cỏ Đông ơi, Vàm Cỏ Đông” (Vàm Cỏ Đông), “Đời hai ta gắn bó với hai sông/ Em Vàm Cỏ Tây anh Vàm Cỏ Đông/ Mỗi tối chiều lên chao sóng nước/ Bìm bịp kêu xao xác cả hai dòng” (Thì thầm với dòng sông).

Sau 1975, hình ảnh sông nước Nam bộ còn đi vào nhiều ca khúc nổi tiếng khác, thể hiện vẻ đẹp quê hương trong một thời kỳ mới, một trang sử mới: “Đời vui nước trôi ngược dòng/ Tình phù sa tuy đục mà trong/ Trông con nước nó trôi lạnh lùng/ Thương ôi chín nhánh sông quê mình/ Cần Thơ gạo trắng nước trong là đây” (“Đàn sáo Hậu Giang” - Nhạc và lời: Trần Long Ẩn), “Chiếc áo bà ba trên dòng sông xanh thẳm/ Thấp thoáng con xuồng bé nhỏ giữa mênh mông/ Nón lá đội nghiêng tóc dài con nước đổ/ Hậu Giang ơi em vẫn đẹp ngàn đời” (“Chiếc áo bà ba” - Nhạc và lời: Trần Thiện Thanh)

Đời sống với bao bộn bề cứ trôi đi và các dòng sông vẫn miệt mài bền bỉ chảy. Thi ca nói về dòng sông mà thực chất cũng là để nói về số phận con người, số phận dân tộc với bao thăng trầm lịch sử. Sự trở về bên những dòng sông đôi khi sẽ là liều thuốc tinh thần quý giá, gột rửa cho ta bao nỗi muộn phiền. Và chính dòng sông sẽ đưa ta tìm lại được những trong trẻo yên bình với bao mộng mơ của một thời thơ ấu: “Trong tim ai cũng có một dòng sông riêng mình/ Tim tôi luôn gắn bó với dòng sông tuổi thơ/ Con sông tôi tắm mát, con sông tôi đã hát/ Con sông cho tôi đậm một tình yêu nước non quê nhà/ Sông cũng như người ấy, có khi vui buồn có khi hờn ghen, chỉ tình yêu tuổi thơ mới thấy/ Ôi những con thuyền giấy, tháng năm tuổi thơ đã đi về đâu, để mình tôi nhớ nhung bây giờ” (Trở về dòng sông tuổi thơ – Nhạc và lời: Hoàng Hiệp).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).