Nhờ sách, biết bất bình trước thực tại

Không như nhiều người nghĩ, thật ra sách có thể mang lại cho người đọc những hệ quả đôi khi không dễ chịu một chút nào.

Trong truyện ngắn mang đậm nét tự truyện có tựa “Những cô bán sách”, được đọc trong khuôn khổ Đại hội các nhà văn và dịch giả quốc tế Stockholm 2008, nhà văn Hồ Anh Thái đã kể về một cậu bé mê sách hồi những năm máy bay Mỹ bắn phá miền Bắc Việt Nam. Khi đó, những cuốn truyện thiếu nhi dày hơn một trăm trang giá 2,2 hào. Nhưng trong túi cậu bé chỉ có 2 hào, mà đấy là cậu phải nhịn ăn bốn bữa sáng mới có.

image002 copy.jpg -0
Thế giới rộng mở qua những trang sách.

Thấy cậu tần ngần, cô bán sách tên Ngân hỏi. Biết chuyện, cô liền bán cho cậu bé cuốn sách với số tiền mà cậu có. “Đưa cô bán cho” - giọng nói dịu dàng và thùy mị của cô Ngân làm cậu bé nhớ mãi. Từ ấy, cậu bé là khách hàng được cô Ngân ưu tiên, cậu mà thiếu vài ba xu lẻ thì vẫn được cô bán sách cho như thường. Một vài năm sau đó, cậu bé và gia đình đi sơ tán.

Và ở nơi họ đến, vào một ngày nọ đã xảy ra chuyện: “Có một cặp vợ chồng trẻ và một đứa con sơ tán ở căn nhà đầu làng. Sáng sớm nay, khi người chồng và gia đình người chủ nhà thức dậy thì thấy người vợ đã treo cổ tự tử. Người làng xúm đông xúm đỏ. Người chồng đem ra một bức thư, chìa cho dân làng xem. Thư của người vợ viết cho một người đàn ông nào đó nhưng chưa kịp gửi đi. Anh ta đọc lên những dòng như thế này: “Những giờ phút ngắn ngủi được ở bên anh bằng cả đời em phải sống cùng chồng em...”. Người vợ ấy chính là cô Ngân bán sách.

Câu chuyện kể trên nói gì? Có thể giả định rằng cô bán sách tên Ngân ấy là một người có đời sống tâm hồn phong phú, giàu tình cảm và nhạy cảm. Là người như vậy, bởi cô bán sách và rất mê đọc sách. Những cuốn sách cô đọc đã mở ra trong cô nhiều chân trời mới, nó đưa cô vượt ra khỏi khuôn khổ của cuộc sống hàng ngày, nó chắp cánh để cô mơ tới những gì rất đẹp, rất cao, rất xa. Trong khi đó, chồng cô lại là người đàn ông hoặc vũ phu thô lỗ, hoặc đơn giản nhạt nhẽo, hoặc tủn mủn tầm thường. Cô không chịu nổi, cô tìm đến với một người đàn ông khác. Vì nhiều nguyên nhân, họ không thể đi tới cùng của mối quan hệ. Và, cô đã chọn cái chết để giải thoát cho chính mình.

Nếu giả định này là đúng, thì điều rõ ràng là phải quy một phần trách nhiệm về cái chết của cô Ngân cho những cuốn sách: “tội” lớn nhất của sách – tôi muốn nói tới những cuốn sách “tử tế” - là “tội” khiến cho người ta biết bất bình với thực tại.

Ví dụ khác, cuốn tiểu thuyết “Người đọc” của nhà văn Đức Bernhard Schlink (Lê Quang dịch. NXB Phụ nữ, 2006). Đó là câu chuyện xảy ra giữa hai nhân vật: Micheal Berg, 15 tuổi, là học sinh trung học, và Hanna Schmitz, 36 tuổi, làm nghề soát vé trên tàu điện. Họ là một cặp tình nhân. Mỗi khi họ gặp nhau, ngoài việc tắm rửa, làm tình, bao giờ cũng có mục Micheal Berg đọc sách cho Hanna Schmitz nghe, vì cô mù chữ (nhưng mãi sau này M.Berg mới biết điều đó). Bắt đầu là những tác phẩm “Odyssey”, “Emilia Galotti”, “Âm mưu và tình yêu”, “Chiến tranh và hòa bình”.

Được tiếp cận với sách, với văn chương, dù không phải theo cách “đọc” mà là theo cách “nghe đọc”, trong H.Schmitz đã có một biến chuyển quan trọng, đó là sự ngưỡng mộ trước những cuốn sách. Đây là hình ảnh của cô trong cái nhìn của người tình nhân trẻ tuổi, khi cô đứng trước giá sách của bố cậu: “Cô đưa mắt dọc các giá sách kín tường, tựa như đang đọc chúng. Rồi cô đến bên một giá sách, chầm chậm quẹt ngón tay trỏ dọc theo các gáy sách ở tầm cao ngang ngực, đi sang giá sách bên cạnh và quẹt tiếp với ngón tay qua từng gáy sách một, rồi đo bước chân dọc phòng”.

Sau Đại thế chiến II nhiều năm, M.Berg gặp lại H.Schmitz tại phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh – H.Schmitz là nữ quản giáo của trại tập trung Auschwitz khét tiếng (đang là người soát vé, cô được cử đi thi để làm người lái tàu điện, nghĩa là phải dùng đến năng lực biết chữ. Không muốn để mọi người biết rằng mình mù chữ, cô bỏ đi, xin vào quân đội).

Việc đọc và nghe đọc giữa hai người được nối lại, nhưng theo một cách hơi khác trước: M.Berg đọc vào băng cassette rồi gửi vào trại giam cho H.Schmitz, và lần này thì danh mục tác giả tác phẩm được M.Berg chọn đọc đã nhiều gấp bội so với trước. Điều đó đã giúp H.Schmitz tự học chữ bằng cách nghe cassette và đối chiếu với từng câu, từng đoạn trong những cuốn sách tương ứng mà cô mượn được từ thư viện của trại giam. Biết chữ, H.Schmitz bắt đầu tìm đọc các sách về trại tập trung của các tù nhân và quản tù.

Và rồi, một sự kiện xảy ra: đêm trước ngày M.Berg đón H.Schmitz ra tù, cô đã thắt cổ tự tử. Điều gì khiến H.Schmitz quyết định kết thúc cuộc đời mình, khi mà dường như nó đang bắt đầu thời kỳ sóng yên gió lặng? Chính là những cuốn sách. Những cuốn sách rọi vào tâm hồn vốn mù mờ thô phác của cô thứ ánh sáng đặc biệt của tri thức. Chúng, nhất là những cuốn sách về trại tập trung, xới tung những hành động trong quá khứ của cô, bắt cô phải gánh lấy trách nhiệm về việc tham gia vào chủ nghĩa bài Do Thái của Đảng quốc xã, dẫu cho khi đó cô tham gia một cách hoàn toàn bất tự giác. Chúng giúp cô hiểu: trong trường hợp ấy, trước sinh mạng của hàng triệu con người, không ai có thể nói rằng mình vô can, rằng đôi bàn tay mình vẫn sạch sẽ. Nói cách khác, những cuốn sách mang đến cho cô nhận thức rõ ràng về tội lỗi của chính mình, chúng thúc giục cô chuộc tội.

So với “Người đọc” của Bernhard Schlink, cuốn tiểu thuyết “Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa” của nhà văn Trung Quốc Đới Tư Kiệt (Lê Hồng Sâm dịch. NXB Văn học, 2003) có lẽ không hề thua sút trong việc để những cuốn sách tham gia vào các tình huống truyện và tạo ra thay đổi bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật. Thực ra, nhà văn trong truyện không phải chỉ có Balzac - mà còn là Victor Hugo, Stendhal, Dumas, Flaubert, Beaudelaire, Romain Rolland, Rousseau, Tolstoi, Gogol, Dostoievsky, Dickens, Kipling, Emily Bronte...; và người đọc không phải chỉ có cô bé thợ may, mà còn là hai chàng thanh niên thành thị bị đưa về nông thôn cải tạo trong thời kỳ Cách mạng văn hóa.

Mọi chuyện thực sự được bắt đầu từ chiếc vali bằng da của một nhân vật khác, có tên là Mục Kỉnh; trong vali cất giấu những tác phẩm của các nhà văn kể trên. Hai chàng thanh niên thành thị đã phải tốn khá nhiều công sức mới được đọc những cuốn sách ấy. Thoạt tiên họ gùi gạo hộ Mục Kỉnh, đổi lại, hắn cho họ mượn cuốn “Ursule Mirouet” của Balzac, rồi thôi. Cuối cùng, họ phải tìm cách đánh cắp chiếc vali để thỏa mãn cơn khát đọc của mình.

Có thể nói, những cuốn sách ấy đã đóng vai trò của kẻ khai minh đối với các nhân vật. Chúng ập đến họ như một luồng sáng chói lòa, khiến họ sững sờ, rồi mê mẩn. Ngay với cuốn sách đầu tiên mà họ được đọc, “Ursule Mirouet” của Balzac, chàng thanh niên thứ nhất, xưng Tôi, đã trình bày sự thay đổi diễn ra trong mình: “Bỗng dưng, như một kẻ xâm nhập không chính danh, cuốn sách nhỏ này nói với tôi về sự thức tỉnh của ham muốn, về những hưng phấn, xung động, về tình yêu, về tất cả những điều mà cho đến bấy giờ, thế giới vẫn câm nín đối với tôi”.

Trong sự phấn khích, Tôi đã chép nguyên văn những đoạn mình thích trong “Ursule Mirouet”, chép thẳng vào mặt áo da cừu đang mặc. Đến lượt nó, khi chiếc áo da này được Lạc - chàng thanh niên thứ hai, bạn của Tôi - mang tới cô bé thợ may và đọc cho cô nghe, thì, đây là lời Lạc kể lại với Tôi: “Sau khi tớ đọc cho em ấy nghe từng chữ một đoạn văn của Balzac, em đã cầm lấy cái áo của cậu, và đã đọc lại một mình, lặng lẽ... Đọc xong, em ngẩn ngơ, im lìm bất động, tấm áo của cậu trong lòng tay, như kiểu các tín đồ cầm một vật thiêng liêng trong lòng tay... Cuối cùng em mặc cái áo tã của cậu vào, trông cũng hay đáo để, và em bảo tớ rằng sự tiếp xúc của da thịt em với những từ ngữ của Balzac sẽ đem lại cho em hạnh phúc và trí tuệ...”.

Có thể nói, với cái vali sách văn chương phương Tây đánh cắp được của Mục Kỉnh, hai chàng thanh niên và cô bé thợ may không những tìm thấy niềm vui trong cuộc sống tù túng nơi vùng rừng núi hẻo lánh, mà có ý nghĩa hơn nhiều, là việc cả một thế giới rộng lớn đã mở ra trước mắt họ. Thế giới ấy, độ cao và chiều rộng của nó hơn gấp bội cái thế giới mà họ đã sống trước đó. Thế nhưng nó không khiến họ rợn ngợp, mà nó kích thích họ, làm bùng lên ở họ niềm khao khát khám phá thế giới để tự đo năng lực, tự đo kích thước của chính mình.

Có thể dẫn ra nhiều hơn nữa những tác phẩm văn học mà trong đó có những cuốn sách đã làm thay đổi những cuộc đời. Sự thay đổi, đôi khi, như một tất yếu, dẫn đến cái chết. Tuy vậy, để cho đầy đủ, cần phải nói rằng có những cuộc đời không cuốn sách nào tác động được dù chỉ một ly, chứ chưa nói tới việc thay đổi. Đó là những cuộc đời không biết tới niềm vui của việc đọc sách. Đó là những cuộc đời mù sách.

Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).