Nhà văn Trần Đức Tiến: Sống và viết đều quyết liệt

Phải đến khi liều lĩnh dấn bước vào mê cung chữ, tôi mới biết Trần Đức Tiến là nhà văn đã thành danh từ thời tôi còn mặc quần khoét đáy nghịch đất bên bờ ao, với giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của Báo Người Hà Nội năm 1986, và hai lần giải Nhì cuộc thi truyện ngắn uy tín trên tạp chí Văn nghệ Quân đội vào các năm 1987 và 1990... 

1. Truyện ngắn đầu tiên của nhà văn Trần Đức Tiến mà tôi đọc được là "Thiếu phụ răng đen". Tôi không nhớ cơn cớ nào mà có tờ phụ trương "Truyện ngắn hay năm 2005" của Báo Văn nghệ. Thời ấy top ten truyện ngắn hay chưa có tính… mặt trận như giờ, nên đa số các truyện đều rất "đã". Và trong dàn truyện tinh tuyển đa thanh nhiều sắc năm 2005, chẳng hiểu sao tôi lại nhớ nhất "Thiếu phụ răng đen". Giờ thì tôi hiểu, có thể không khí liêu trai, ma mị của truyện ngắn ấy đã khiến cậu chàng mới lớn còn nhát ma như tôi nhớ lâu.

Không lâu sau, cái tên Trần Đức Tiến lại gây cho tôi nhớ với truyện "Đồng hồ báo tử" trong tuyển hiện thực kỳ ảo, "Hồn hoa đêm tháp cổ" do nhà sách Đông A in và phát hành mà tôi kiếm được từ sạp sách báo cũ vỉa hè. So với "Thiếu phụ răng đen", "Đồng hồ báo tử" có lối viết khác, mới lạ hơn, sắp đặt hơn và ảo diệu hơn.

Phải đến khi liều lĩnh dấn bước vào mê cung chữ, tôi mới biết Trần Đức Tiến là nhà văn đã thành danh từ thời tôi còn mặc quần khoét đáy nghịch đất bên bờ ao, với giải Nhất cuộc thi truyện ngắn của Báo Người Hà Nội năm 1986, và hai lần giải Nhì cuộc thi truyện ngắn uy tín trên tạp chí Văn nghệ Quân đội vào các năm 1987 và 1990. Văn nghệ Quân đội đến giờ vẫn là tạp chí văn chương không chỉ của người lính mà của cả văn đàn. Tuy nhiên, thời "Những con cá cờ", "Tiếng gọi" và "Mười lăm năm mưa xói", "Làng cũ" của Trần Đức Tiến vào giải còn "linh thiêng và hào hoa" hơn bây giờ nhiều.

2. Con đường đến với văn chương của nhà văn Trần Đức Tiến xem ra khá lắt léo. Từng là học sinh giỏi văn của Nam Hà (tỉnh cũ của Hà Nam với Nam Định) và toàn miền Bắc, chàng trai Trần Đức Tiến ôm mộng trở thành sinh viên Đại học Tổng hợp Văn. Tréo ngoe sau đó, khi thi đỗ, Trần Đức Tiến lại được xếp vào Trường Đại học Kinh tế - Kế hoạch, (bây giờ là Đại học Kinh tế quốc dân). Sự thực ấy ngỡ đã giết chết mầm văn ở ông. Ai dè văn chương là thứ khó dứt. Khi đã thành cán bộ ngành Thống kê, được người bạn, sau này là nhà văn, Trần Quốc Huấn,… "kích động", Trần Đức Tiến hăm hở nhảy bổ vào văn chương. Truyện ngắn đầu tay của ông in đĩnh đạc trên Báo Văn nghệ thời ấy khiến nhiều cây viết trẻ thèm thuồng.

 Và rồi "đôi bạn cùng tiến" này đã cùng nhau ẵm giải Nhất và Nhì cuộc thi Truyện ngắn của Văn nghệ Quân đội năm 1987.

Năm 1986, giắt lưng 11 năm lập nghiệp ở Hà Nội, Trần Đức Tiến gây bất ngờ cho không ít bạn bè khi cùng bầu đoàn thê tử làm cuộc thiên di vào mảnh đất "hợp chủng tỉnh" Vũng Tàu. Rồi từ ngành Thống kê, ông làm cuộc thiên di thứ hai bất ngờ không kém là chuyển sang cơ quan Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh.

Khi tôi về làm biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Bà Rịa - Vũng Tàu, nhà văn Trần Đức Tiến đã kịp nhận sổ hưu. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi ở đây là hệ thống hóa, đóng tập các số tạp chí theo từng năm. Và tôi nhận ra, thời nhà văn Trần Đức Tiến ở cương vị Chủ tịch Hội kiêm Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Bà Rịa - Vũng Tàu, tạp chí đã thu hút được bài vở cộng tác của khá nhiều tên tuổi từ khắp ba miền. Tiêu biểu như Tô Hoài, Phong Lê, Trinh Đường, Trúc Thông, Ngô Quân Miện, Vương Trí Nhàn, trẻ hơn là Phạm Xuân Nguyên, Trung Trung Đỉnh, Tạ Duy Anh, Sương Nguyệt Minh, Tô Hải Vân, Ngô Tự Lập, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thanh Hà, trẻ hơn nữa là Nguyễn Hữu Hồng Minh, Trần Nhã Thụy, Vi Thùy Linh, Nguyễn Thị Châu Giang…

Một đồng nghiệp của ông nói: Trần Đức Tiến có tham vọng đưa tờ tạp chí Văn nghệ vươn ra khỏi quy mô tờ tạp chí của tỉnh nhà, của Hội Văn học - Nghệ thuật. Chính vì điều này mà không ít lần ông vấp phải sự cự nự của một số hội viên có chất lượng bài vở chỉ nhấp nhổm nhỉnh hơn mức câu lạc bộ phong trào.

Sự riết róng quyết liệt của Trần Đức Tiến không chỉ trong chữ nghĩa mà còn cả trong cuộc sống. Ông sẵn sàng lên tiếng, tranh đấu để mọi sự phải ở đúng trật tự, vị trí của nó. Ít nhất là theo cảm quan của ông. Có câu chuyện bạn bè văn nghệ vẫn truyền tai nhau, là hồi còn đương chức Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật, trong lần Hội nghị Mặt trận Tổ quốc xin ý kiến về chức danh Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh. Cả rừng cánh tay giơ lên.

Theo nguyên tắc chủ tọa vẫn phải hỏi những ai không đồng ý. Hội trường lặng ngắt hướng mắt về phía cánh tay lạc lõng giơ lên đầy quyết đoán. Cánh tay ấy là của nhà văn Trần Đức Tiến. Người thông minh và tỉnh táo như Trần Đức Tiến thừa hiểu cánh tay của ông chẳng thể làm nên… mùa xuân. Tại sao ông không đứng về số đông cho khỏe? Đơn giản đấy là cá tính của ông. Có chính kiến. Rõ ràng. Và quyết liệt.

3. Đọc các truyện ngắn của Trần Đức Tiến, không khó để nhận ra ông là nhà văn giỏi xoay trở ngòi bút trong khoảng không gian hẹp. Theo ngôn ngữ bóng đá, phải là cầu thủ có kĩ thuật cá nhân cao, điêu luyện mới có thể làm được điều này. Các truyện ngắn của Trần Đức Tiến, từ tập "Bão đêm", đến "Mười lăm năm mưa xói" rồi "Tuyệt đối yên tĩnh", "Lỏng và tuột", càng về sau càng ít truyện có bối cảnh không gian rộng và thời gian trải dài.

Đa số là những lát cắt về một trạng huống nào đó. Nhà văn bám và xoáy sâu, lật tẩy mọi nghĩ suy, âm mưu, toan tính của nhân vật. Và hồn cốt truyện được bật lên từ đấy. Trần Đức Tiến tài tình trong việc "đi guốc vào bụng" các nhân vật. Ông chạm đến mọi ngóc ngách, bản năng nhất của những y, những hắn, những gã, những lão - cách ông gọi nhân vật của mình.

Một số tập sách của nhà văn Trần Đức Tiến.
Một số tập sách của nhà văn Trần Đức Tiến.

"Nhiều truyện ngắn của Trần Đức Tiến là truyện không có chuyện. Những truyện không thể kể lại được. Những truyện hấp dẫn ở cách viết, cách dẫn dắt, nhất là những chi tiết, những chi tiết không có gì đặc biệt, đầy rẫy quanh ta, trong truyện Trần Đức Tiến bỗng tỏa sáng, khiến ta cảm thất bất ngờ như mới gặp lần đầu". Tác giả của "Chuyện kể năm 2000", nhà văn Bùi Ngọc Tấn, đã nhận xét như vậy.

Còn nhà văn "Bước qua lời nguyền", Tạ Duy Anh, thì nói: "Thế giới mà Trần Đức Tiến tạo ra luôn ở ranh giới giữa thực và ảo, giữa một bên là cuộc đời bề bộn, huyên náo, ngầu lên những dục vọng nhưng đầy bất trắc, đầy nguy cơ biến mất với một bên là những gì chỉ thoáng hiện, không dễ xác định nhưng lại luôn có cơ hội tồn tại phi thời gian".

4. Nếu chỉ tiếp cận Trần Đức Tiến ở những sáng tác dành cho người lớn, chẳng mấy ai nghĩ ông còn là tác giả sung sức và nhiều thành tựu trên vuông sân chữ nghĩa cho đối tượng thiếu nhi. Thực tế, nếu bỏ đi mảng sáng tác cho thiếu nhi của Trần Đức Tiến là bỏ mất một nửa thế giới chữ của ông.

Phần đa người viết vẫn xem văn học thiếu nhi là chiếu dưới, thi thoảng tiện tay thì viết, kiểu thâm canh ngòi bút, thâm canh lại tuổi thơ một chút rồi thôi. Trần Đức Tiến không thế. Ông nói: "Tôi không phân biệt văn học theo đề tài, cũng như không coi sáng tác cho trẻ em là công việc chỉ làm bằng tay trái. Văn hay cho thiếu nhi cũng oách chẳng kém gì văn hay cho người lớn. Viết cho trẻ em là nhu cầu của tôi. Có 2 điều tôi luôn luôn nghĩ tới mỗi khi ngồi viết cho các em: Viết thế nào cho các em thích đọc và có những tác phẩm văn học được đọc từ lúc còn nhỏ sẽ đi theo người ta suốt đời".

Chỉ cần lướt qua các đầu sách Trần Đức Tiến chăm chút cho thiếu nhi, như: "Ốc mượn hồn", "Vương quốc vắng nụ cười", "Dế mùa thu", "Thằng Cúp", "Làm mèo", "Thi sĩ còng gió", "Trăng vùi trong cỏ", "Những truyện hay viết cho thiếu nhi - Trần Đức Tiến", "Trên đôi cánh chuồn chuồn" cùng hàng loạt giải thưởng văn học thiếu nhi uy tín ông đã sở hữu, như: hai lần đoạt giải Nhì về sáng tác cho thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam vào các năm 1992 và 1997, Giải C cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi của NXB Kim Đồng năm 1997, giải Nhất cuộc thi sáng tác cho lứa tuổi mầm non của Bộ GD & ĐT và Hội Nhà văn năm 2005, Giải Nhất Cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi của NXB Kim Đồng và Hội Nhà văn Đan Mạch năm 2009, là phần nào hiểu được tâm huyết con chữ ông dành cho lứa tuổi tương lai của đất nước.

5. Mười lăm năm trở lại đây, nhà văn Trần Đức Tiến luôn giữ thói quen đi bộ lên núi mỗi chiều. Thêm thói quen nữa, là ông vẫn giữ nếp tránh xa những chỗ ồn ào. Ông không hào hứng với các cuộc bù khú, vừa mất thời gian vừa tổn hao sức khỏe. Nếu có tới đâu đó, thì thoáng chốc đã không thấy ông đâu. Dường như ông đang chạy đua với thời gian, với trang viết, với những kế hoạch cá nhân.

Nhưng dẫu quỹ thời gian có eo hẹp thế nào thì Trần Đức Tiến vẫn đọc. Nhờ đọc mà thời còn ở Hội đồng Văn xuôi và Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn, không ít lần ông đề cử tác phẩm của các tác giả mới vào giải của Hội Nhà văn, như "Paris 11 tháng 8" của Thuận, "Bãi vàng, đá quý, trầm hương" của Nguyễn Trí.

Ở tuổi 63, nhà văn Trần Đức Tiến vẫn đọc nhiều và viết kĩ, với truyện ngắn, đoản văn và truyện thiếu nhi. Nghĩa là, trong ông luôn thường trực tinh thần quyết liệt với từng con chữ và cuộc sống.

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".