Nhà văn Dương Hướng: Viết là để tự giải tỏa mình

Nhà văn Dương Hướng đến với văn chương muộn. Mãi đến năm 1985, khi đã 36 tuổi, ông mới có truyện ngắn đầu tay đăng trên Báo Hạ Long. Đến năm 1990, khi đã 41 tuổi, ông mới có tiểu thuyết đầu tiên ấn hành qua Nhà xuất bản Hội Nhà văn. 

Ông cũng là người viết không nhiều. Tính đến nay, Dương Hướng mới xuất bản 3 tập truyện ngắn và 3 tiểu thuyết, trong đó có 2 tiểu thuyết quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của ông là “Bến không chồng” và “Dưới chín tầng trời”. Riêng “Bến không chồng” đã được trao giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 cùng với  “Thân phận của tình yêu” (tức “Nỗi buồn chiến tranh”) của Bảo Ninh và “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường. Và chỉ chừng ấy tác phẩm thôi, có lẽ cũng đủ khắc họa tài năng và cá tính sáng tạo của một nhà văn.

Về một trong hai tiểu thuyết quan trọng của Dương Hướng, đã có không ít người cho rằng: “Tác phẩm “Bến không chồng” không chỉ đề cập đến những người lính thời hậu chiến mà còn xây dựng hệ thống nhân vật những người phụ nữ cô đơn mòn mỏi đợi chồng, những hòn Vọng Phu chưa hóa đá. “Bến không chồng” như một chứng nhân của lịch sử, vắt mình qua hai cuộc chiến tranh, với những nỗi đau mà các nhân vật nữ phải gánh chịu”.

Còn nhà văn Trung Trung Đỉnh lại cho rằng: “Anh chiếm lĩnh được tâm hồn người đọc bằng sức hút của tấm lòng yêu thương, nhân hậu, tự nhiên, không ồn ào văn vẻ với một bút lực dồi dào đầy trách nhiệm. Dương Hướng là người có bản lĩnh, dám chịu trách nhiệm trước các số phận bi ai, không né tránh nửa với, khiến thiên truyện càng tới những trang cuối càng dồn nén đến nghẹt thở. Sự thành công quyết liệt của anh, chính là ở cái “máu chịu chơi”, không tự buông lỏng tình cảm, đẩy được tấn bị kịch kia đến tột cùng, ngoài sự sắp xếp của những kinh nghiệm nghề nghiệp”.

Viết đến đây, tự nhiên tôi lại nhớ đến một câu thơ: “Chính sự đợi chờ của em đã cứu sống anh” trong “Đợi anh về” của nhà thơ Xô viết Ximônốp. Chức phận và vai trò của vợ những người lính trong chiến tranh, lớn lao như vậy đó!

 Một phần tư thế kỷ trôi qua, tôi nghĩ, “Bến không chồng” không chỉ có vậy. Nó còn là một mảng chiến tranh diễn ra tại hậu phương và cũng khốc liệt không kém cuộc chiến tranh ở tiền phương, kéo dài từ sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), qua cuộc “Cải cách ruộng đất”, đến tận ngày Việt Nam thống nhất (1975). Nó cũng mang trong lòng nó thân phận con người của cả một giai đoạn lịch sử trên hai thập kỷ bi tráng của dân tộc.

Ở một chừng mực đáng kể, nó chính là “văn học chiến tranh” hoặc một phần của “văn học chiến tranh”, không phải “văn học chiến trận”, “văn học đánh giặc” như trước khi nó ra đời. Cho đến giờ, tôi cũng vẫn nghĩ như thế khi đọc “Cánh đồng lưu lạc” của nhà văn Hoàng Đình Quang. Cuốn tiểu thuyết này của Hoàng Đình Quang đã được trao Giải B trong cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn 2 năm từ 2003 đến 2005.

Điều đáng mừng và đáng bàn nữa: “Bến không chồng” không phải là tác phẩm có giá trị nhất thời. Vì thế mà không phải ngẫu nhiên, trải qua sự thử thách của thời gian, nó đã được tái bản tới 14 - 15 lần, được Nhà xuất bản Trẻ mua bản quyền 5 năm, được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh (phim nhựa hẳn hoi) và mới đây, nó được chuyển thể vào phim truyền hình dài 32 tập. Không chỉ có thế, “Bến không chồng” còn được xuất bản ở Pháp, ở Đức. Và từ đó, nhân vật Nguyễn Vạn đã trở thành “nhân vật văn học”. Bên cạnh đó, “Bến không chồng” còn là xuất phát, là căn cứ, là nguồn tư liệu quý cho nhiều luận văn, luận án ra đời.

Khi tôi hỏi: “Cổ nhân dạy “biết đủ là giàu”. Còn trong nghiệp viết và viết như anh, là nhiều hay ít?”, thì Dương Hướng trả lời ngay: “Chả nên bàn về nhiều hay ít ở đây. Riêng tôi, tôi thấy: Đối với văn chương, biết đủ là được rồi. Vả lại, đời người thì ngắn (hữu hạn) còn văn chương hoặc những gì có liên quan, gắn bó với sáng tạo, bao giờ chẳng dài (vô hạn)”.

Nhìn lại “Bến không chồng”, Dương Hướng bảo: “Trước khi sinh hạ, nó cũng có số phận của nó đấy. Đằng sau việc xuất bản nó là cả một câu chuyện dài, cũng có kịch tính với một số tình tiết hồi hộp, lo âu lắm”.

Rồi anh kể: “Khi viết tiểu thuyết này, tôi đã xin nghỉ không ăn lương đến 6 tháng của ngành Hải quan (cụ thể là Cục Hải quan Quảng Ninh). Trong khoảng thời gian này, tôi được Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ninh ưu ái cho hưởng lương cơ bản. Chính vì thế mà khi viết xong, Nhà xuất bản Quảng Ninh yêu cầu in tác phẩm này của tôi là phải lẽ và tôi khó lòng từ chối. Trong khi ấy là người viết, ai chẳng thích trình làng tác phẩm của mình ở những nhà xuất bản có đẳng cấp cao hơn.

Có việc này, cũng… nghiêm trọng đấy. Ấy là không dưới một lần, cán bộ biên tập Hồng Hải hỏi tôi: “Nếu anh viết như thế này thì các nhân vật của anh được gì?”. Sau đó, ông Hồng Hải còn bảo tôi phải bỏ nhiều chỗ và cắt hẳn phần kết, không được để Nguyễn Vạn ngủ với cô Hạnh, vì như thế là loạn luân”. Tôi nghe mà phát hoảng. Bao nhiêu điều cốt lõi, tâm đắc, công sức của mình mà người biên tập cảnh giác đến mức định cắt roẹt một cái, làm sao có thể chấp nhận được.

Tìm cách “hoãn binh”, tôi bảo: “Anh cho tôi nửa tháng nữa để suy nghĩ và làm việc đó”. Cũng may mắn cho tôi, trong thời điểm căng thẳng ấy, tôi đã gửi bản thảo lên Nhà xuất bản Hội Nhà văn từ trước và nhận được một bức thư ngắn của nhà văn Nguyễn Phan Hách. Anh Hách viết: “Tiểu thuyết “Bến không chồng” là một biên niên sử của làng Đông nói riêng và làng quê Việt Nam nói chung. Nhà xuất bản sẽ in ngay”. Thế là tôi mừng rơn và tạm lờ lớ lơ lời hẹn với ông Hồng Hải, với Nhà xuất bản Quảng Ninh, rồi sốt ruột chờ đợi.

“Bến không chồng” được in ngay mà không phải cắt một chi tiết nào cả. Một ngày của năm sau (Hội Nhà văn thường xét các tác phẩm năm trước, trao giải thưởng ở năm sau), nhà văn Lý Biên Cương bảo tôi: “Mai, có xe của Hội, tôi với ông về Hà Nội. “Bến không chồng” của ông “ăn” giải Hội Nhà văn rồi đấy”.

Hay tin này, tất nhiên là tôi rất mừng và thầm cảm ơn nhà văn Nguyễn Phan Hách. Mà đâu chỉ có tôi. Năm 1990, còn có “Thân phận của tình yêu”, “Mảnh đất lắm người nhiều ma” cũng “ăn” giải như tôi và ra mắt bạn đọc, cũng qua “bà đỡ” mát tay Nguyễn Phan Hách đấy chứ”.

“Như vậy là trong cái rủi cũng có cái may. Nhưng theo tôi, cái may lớn hơn cả là lúc ấy đất nước ta đang chớm vào thời kỳ đổi mới. Vì vậy, xã hội đánh giá văn chương cũng cởi mở hơn, đa chiều hơn và nhà văn cũng được viết thật hơn, được trải lòng hơn theo tinh thần “cởi trói” mà Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh hướng tới” - Khi nghe tôi nhận xét như vậy, nhà văn Dương Hướng phản hồi ngay: “Đối với nhà văn khác thế nào, tôi không biết. Còn nếu áp dụng trong trường hợp của tôi, cụ thể là qua “Bến không chồng” thì không hoàn toàn như vậy. Tôi thai nghén nó từ lâu rồi. Một khi đã lên bàn viết thì tôi không ngại gì cả, chỉ ngại “lực bất tòng tâm”, ngại không thể hiện được những gì như mình muốn. Tôi không bị lệ thuộc và khuất phục vào cái ý nghĩ: “Thế viết xong, cuốn sách này có được in không và in ở đâu? Nếu không được chấp nhận thì viết làm gì!”.

Với ý nghĩ này, tôi lao vào bàn viết và viết thật say mê, viết như bị ma ám vậy. Mà đâu chỉ có “Bến không chồng”, khi viết “Dưới chín tầng trời” sau này, tôi cũng nghỉ không ăn lương chẵn 6 tháng và cũng lên bàn viết cũng say mê, cũng như bị ma ám vậy”.

Điều này cũng cho thấy: Đôi khi, Dương Hướng không quá riết róng với sự mưu sinh, cho dù anh rất có thuận lợi vì làm việc lâu dài ở ngành Hải quan.

Tôi tiếp xúc với Dương Hướng rất ít. Có lẽ tôi không có cơ duyên với anh. Nhưng gặp anh rồi thì tôi cũng nhanh chóng nhận ra anh là một người chậm rãi, chắc chắn, tin cậy, tuy giản dị mà sâu sắc. Có khoảnh khắc, tôi có cảm giác anh là một khúc sông, bề mặt của nó thì phẳng lặng, nhưng trong lòng nó là cả một độ sâu đầy nội lực khó lường hết được.

Thuở thiếu thời, Dương Hướng mê Víchto Huygô, Sêkhốp và Vũ Trọng Phụng. Anh bảo: “Khi ấy, những áng văn chương của những nhà văn này mê hoặc tôi lắm và có ảnh hưởng đến tôi dài lâu lắm. Họ là những tấm gương của tôi”.

Khi đã có tuổi, có thành công trong nghiệp viết, Dương Hướng bộc lộ: “Đã từ lâu, tôi thấy rõ mình đang từng giờ, từng ngày tự hủy hoại cả tinh thần lẫn thể xác của chính mình. Nhưng chính tôi lại thấy rõ hơn ai hết, trong cái chết đi của mình, có cái gì đó vẫn lấp ló hồi sinh, mỗi ngày một sáng rõ hơn, thấu đáo hơn và tinh tế hơn trong cuộc sống. Tôi nghĩ mình viết được có lẽ nhờ những bức xúc, những va đập cứ lặp đi lặp lại theo chu kỳ chết dần chết mòn rồi tự sống lại, tự hồi sinh, lại viết. Viết để tự giải tỏa cho chính mình”.

Thử hỏi khi suy nghĩ về nghề văn, đã có mấy ai chân thành, quyết liệt và sâu sắc như Dương Hướng? 

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...

Dán nhãn độ tuổi cho MV: Khi “tấm biển cảnh báo” còn bỏ ngỏ

Dán nhãn độ tuổi cho MV: Khi “tấm biển cảnh báo” còn bỏ ngỏ

Nếu việc dán nhãn phân loại độ tuổi đã trở thành điều kiện bắt buộc với tác phẩm điện ảnh, xuất bản... trước khi đến tay công chúng thì ở lĩnh vực âm nhạc, tấm biển cảnh báo này gần như bỏ ngỏ. Thế nên không lạ khi làng nhạc liên tục vấp phải tranh cãi vì những MV có nội dung người lớn.