Nhà thơ Vương Trọng: Chiêm nghiệm về đời sống nhân sinh

Nhà thơ Vương Trọng tên thật là Vương Đình Trọng, sinh ngày 1/8/1943 tại Đô Lương, Nghệ An, còn có bút danh Dương Nguyên, Đồ Nghệ. Ông tốt nghiệp khoa Toán Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, sau đi nhập ngũ, phục vụ ở Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, rồi làm giáo viên Trường Văn hóa quân đội, đồng thời sáng tác thơ, ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Vương Trọng theo học Trường Bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam,  từ năm 1964, ông làm biên tập Tạp chí Văn nghệ quân đội. Các tác phẩm đã xuất bản gồm 30 đầu sách, trong đó có gần 20 tập thơ và trường ca: "Thơ người ra trận" (thơ in chung, 1972); "Khoảng trời quê hương" (thơ, 1979); "Những ngày xa" (thơ, 1986); "Về thôi nàng Vọng Phu" (thơ, 1991); "Đảo chìm" (trường ca, 1994); "Hồn quê" (truyện ngắn, 1994); "Mèo đi câu" (thơ thiếu nhi, 1996); "Cánh chim Phay Khắt" (truyện thơ). Các giải thưởng văn học: 2 lần được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1993 và 1996); 5 lần được Giải thưởng của Bộ Quốc phòng; Giải thưởng Nhà nước về VHNT 2007.

Nhà thơ Vương Trọng: Chiêm nghiệm về đời sống nhân sinh -0
Nhà thơ Vương Trọng.

Nhà thơ lục bát lão thành có nhiều độc giả

Nói đến nhà thơ Vương Trọng là phải nói đến thơ lục bát và "Truyện Kiều". Ông là một cây thơ lục bát lão thành có khá nhiều độc giả theo phong cách của một "Ông đồ xứ Nghệ", và có nhiều nhận định rất sâu sắc về thể thơ truyền thống này.

Ông nhận xét: "Thơ lục bát là hơi thở tự nhiên của dân tộc ta, đồng hành cùng dân tộc suốt chiều dài lịch sử. Khi người Việt có ngôn ngữ, tức tiếng nói, là thơ lục bát hình thành. Thuở sơ khai chắc chỉ những câu đơn lẻ, chưa có luật lệ, dần dần phát triển thành cặp câu, luật về vần và điệu mới ra đời. Trong quá trình truyền miệng, thơ lục bát hầu hết dưới dạng ca dao, tục ngữ ngắn gọn. Khi có văn tự mới có thể lưu giữ được những bài dài hơi. Thơ lục bát một thời xuất hiện trong các truyện thơ với thế mạnh của tự sự, tức kể chuyện. Bên cạnh đó, thể lục bát tạo điều kiện thuận lợi cho con người thể hiện tình cảm của mình như thương nhớ, yêu đương, gần gũi với ngôn ngữ dân gian…".

Từ nhiều năm trước đây, nhà thơ Vương Trọng đã đến với người đọc qua bài thơ lục bát nổi tiếng "Bên mộ cụ Nguyễn Du". Qua thời gian, bài thơ vẫn là tiếng nói có sức rung động đi cùng năm tháng: "Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên/ Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây/ Ngẩng trời cao, cúi đất dày/ Cắn môi tay nắm bàn tay của mình/ Một vùng cồn bãi trống trênh/ Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề/ Hút tầm chẳng cánh hoa lê/ Bạch đàn đôi ngọn gió về nỉ non/ Xạc xào lá cỏ héo hon/ Bàn chân cát bụi, lối mòn nhỏ nhoi/ Lặng im bên nấm mộ rồi/ Chưa tin mình đã đến nơi mình tìm/ Không cành để gọi tiếng chim/ Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời/ Không vầng cỏ ấm tay người/ Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu/ Thanh minh trong những câu Kiều/ Rưng rưng con đọc với chiều Nghi Xuân/ Cúi đầu tưởng nhớ vĩ nhân/ Phong trần còn để phong trần riêng ai/ Bao giờ cây súng rời vai/ Nung vôi, chở đá tượng đài xây lên/ Trái tim lớn giữa thiên nhiên/ Tình thương nối nhịp suốt nghìn năm xa".

Bài thơ "Bên mộ cụ Nguyễn Du" của Vương Trọng không chỉ là một bài thơ tưởng nhớ Đại thi hào, thể hiện sự chiêm nghiệm nhân sinh mà còn là một tác phẩm chứa đựng những suy tư sâu sắc về kiếp người, về thời gian. Sử dụng biểu tượng thơ mạnh mẽ và nghệ thuật lục bát tinh tế, tác giả đã khéo léo kết nối giữa không gian hiện tại với quá khứ, giữa con người với thiên nhiên, giữa nỗi buồn và sự kính trọng, tạo nên một bức tranh thi ca đậm chất triết lý và nhân văn. Những câu thơ lục bát của Vương Trọng không chỉ mang tính nhạc điệu mà còn thể hiện sự tinh tế trong việc lựa chọn ngôn từ, thể hiện sự giao hòa giữa quá khứ và hiện tại. Nghệ thuật thơ lục bát trong bài thơ có tính thiền, giống như một dòng suy tưởng, một nỗi niềm chiêm nghiệm về cuộc sống, về cái chết.

Nhận định về thế mạnh của thơ lục bát, Vương Trọng cho rằng: "Muốn thơ mình có ích, muốn tư tưởng, tình cảm của mình có thể đến với người đọc, thì ít ra, thơ cũng cần dễ thuộc, dễ nhớ. Thơ viết ra để bạn đọc đọc rồi mà không thể nhớ tý gì, thì thơ đó có cũng như không! Lục bát là thể thơ giúp bạn đọc dễ thuộc, dễ nhớ hơn tất cả những thể thơ khác".

Thơ sinh ra không để "chơi chữ" mà để chuyển tải nỗi lòng

Không chỉ sâu sắc, tinh tế trong thơ lục bát, ở các thể loại khác, nhà thơ Vương Trọng những thập niên qua đã gây được sự chú ý của số đông người yêu thơ. Qua các tập thơ của ông có thể thấy được sự lao động nghiêm túc trong nghệ thuật, mang lại những phát hiện mới, có giá trị khắc họa bằng ngôn ngữ của thơ nỗi đau của những phận người, cái mà chỉ ít năm trước đây, người làm thơ thường né tránh.

Thơ của ông dường như nghiêng về sự cảm thông những nỗi niềm, những cảnh đời đơn lẻ, mất mát đau đớn trong thân phận của người phụ nữ. Từ nỗi đau của người đàn bà không chồng, muốn được làm mẹ đã từng xa xót: "Đêm về khuya cả phòng lặng ngủ/ Mẹ nhẹ nhàng ngồi dậy vuốt ve con/ Mặc người đời gọi con ngoài giá thú/ Con vẫn trong tình mẹ vuông tròn/ Mẹ làm mẹ mà chưa từng làm vợ/ Vẫn suất cơm tập thể quá khiêm nhường/ Nửa làm máu nửa chia ra làm sữa/ Hạnh phúc nào bằng san sẻ yêu thương/ Thôi nhắc chi những năm dài trống trải/ Bao vầng trăng vô nghĩa rụng qua đầu/ Tóc hoàng hôn thưa dần theo lược chải/ Pháo cưới người như đốt để trêu nhau…"  (Với đứa con ngoài giá thú-thơ Vương Trọng).

Nhà thơ Vương Trọng: Chiêm nghiệm về đời sống nhân sinh -1
Bìa tập thơ "Về thôi nàng Vọng Phu" của nhà thơ Vương Trọng.

Đến cái chết bi thảm của công chúa Mỵ Châu đã từng làm đề tài cho thơ ca bao thế kỷ. Một lần nữa trở lại với tình sử này, Vương Trọng đã đứng về phía tình yêu để cởi án cho nỗi oan khiên còn day dứt muôn đời: "Khi quay lại chém con sau yên ngựa/ An Dương Vương, người đã nghĩ suy gì?/ Hay cùng đường, ai cũng là giặc giã/ Và nghe lời mách bảo của Kim Quy…/ Lông ngỗng rơi, lông ngỗng rơi trắng lối/ Dứt áo ra như dứt thịt da mình/ Phút ly loạn, chàng ở đâu chẳng tới/ Trọng Thủy ơi, thiếp đã chạy xa thành…/ Đã là vua lại có thần mách bảo/ Tưởng sáng suốt hai lần và công lý gấp đôi/ Mà người chết, không hiểu sao mình chết/ Thì hồn oan còn đập cửa muôn đời/ Mấy ngàn năm dâu bể, lở bồi/ Lúc yên bình và cả khi giặc giã/ Xin đừng trách Mỵ Châu thêm nữa/ Yêu chân thành, thật có tội gì đâu?".

Bài thơ "Mỵ Châu" của Vương Trọng là một tác phẩm đầy cảm xúc và sâu sắc, khai thác câu chuyện bi kịch của công chúa Mỵ Châu, một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, với sự kết hợp giữa yếu tố lịch sử và các góc nhìn nhân văn. Vương Trọng đã khéo léo thể hiện bi kịch của Mỵ Châu qua những hình ảnh mạnh mẽ và đầy biểu tượng, đồng thời thể hiện sự đau đớn của cô gái yêu chân thành, bị định mệnh và những yếu tố ngoài tầm kiểm soát làm cho cô phải chịu cái chết oan nghiệt, đây còn là một bài học sâu sắc về sự đau đớn của tình yêu, sự sai lầm trong sự phán quyết của quyền lực, thể hiện thông điệp nhân văn sâu sắc về tình yêu và số phận.

Có lẽ, trong đời thơ của mình, nhà thơ Vương Trọng đã dành cho những thân phận phụ nữ xót xa những bài thơ hay nhất của mình với sự lặng lẽ đồng cảm thấm đẫm tình người và nhân thế. Nhà thơ đã chạm tới được cõi thẳm sâu của tâm linh, không phải bằng sự phá vỡ ồn ào sắc cạnh của lý trí mà bằng cảm xúc của trái tim. Đã bao năm chiến chinh đi qua với hình tượng người vợ hóa đá chờ chồng, nỗi đau thăm thẳm đã khắc tạc nơi đá ấy trong lời đối thoại của Vương Trọng với các nàng Vọng Phu, cũng chính là: "Người đời biết thân ta hóa đá/ Nhưng hay đâu ta hóa đá niềm tin/ Hóa đá nỗi cô đơn/ Và thời gian chờ đợi/ Ta hóa đá đợi triệu lần nỗi đợi/ Để những người vợ muôn đời thoát khỏi cảnh chờ mong" (Trò chuyện với Vọng Phu - thơ Vương Trọng)

Không chỉ viết về những nỗi đau, những bài thơ viết về tình yêu của Vương Trọng với những thoáng kỷ niệm say đắm, xúc động lại mang đến cho người đọc một cách nhìn tươi mới, giàu sức sống giữa tình người và tình thiên nhiên: "Cái thời bến có con đò/ Tán cây biết tỏa bóng cho mái đầu/ Cái thời mơ ước thì cao/ Bầu trời cũng đẹp, ngôi sao cũng gần/ Cái thời người ấy chớm xuân/ Ta vừa lớn dậy mới lần đầu yêu". Thể lục bát truyền thống viết hay được vốn rất khó. Cái mạch trữ tình trong thơ Vương Trọng cứ lặng lẽ bày tỏ, lặng lẽ bộc bạch để đưa sự cảm thông đến với người đọc những rung động sâu xa mà không dễ mấy người làm thơ có được.

Suy nghĩ về nghề văn, nhà thơ Vương Trọng cho biết: "Tôi yêu Đỗ Phủ hơn Lý Bạch, yêu Nguyễn Du hơn Hồ Xuân Hương. Bởi Đỗ Phủ, Nguyễn Du ngoài tài thơ ra còn có trái tim lớn, đau nỗi đau những cuộc đời bất hạnh. Thơ sinh ra không phải cho người đời chơi chữ, mà cốt để chuyển tải nỗi lòng. Bài thơ hay nhiều khi không còn thấy thơ đâu, mà chỉ thấy cuộc đời, tâm trạng và số phận. Đừng đối lập sự trong sáng, dễ hiểu với sự sâu sắc "Dòng suối sâu, nước càng trong càng thấy rõ độ sâu. Dòng suối cạn muốn dọa người rằng sâu chỉ có cách khuấy ngầu lên nước đục. Nông, sâu là ý tứ. Trong, đục ấy ngôn từ".

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).