Nhà thơ Trần Nam Phong - Cây thơ lục bát tài hoa của văn nghệ miền Trung

Nhà thơ Trần Nam Phong, Chủ tịch Hội liên hiệp VHNT Hà Tĩnh là một gương mặt thơ đậm chất miền Trung. Đọc thơ anh, tôi như cảm thấy chất nhạc của các điệu hò, điệu ví dân gian của miền đất này đã ngấm vào các thi điệu lục bát ngọt ngào, tinh tế đang ngân nga trong không ít câu thơ lãng mạn làm nên tên tuổi anh.

Theo tôi, thơ hay là loại thơ dễ rung động người đọc bằng thứ cảm xúc và hình ảnh liên tưởng, suy tưởng rất tinh tế và đầy tính sáng tạo khi được khắc họa trong một trường thẩm mỹ giàu chất thơ. Thật ra, thơ hay có những tiêu chí gì, chuẩn mực gì vẫn là chuyện muôn đời xưa nay còn phải bàn cãi, vì cái hay đối với lớp người này (ở thời điểm này) chưa chắc đã là hay đối với lớp người khác (ở thời điểm khác) và ngược lại. Nhưng có một điều dễ nhận ra, thơ hay là thứ thơ còn đọng lại được qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian, bởi thời gian là thước đo sòng phẳng nhất đối với mọi giá trị sáng tạo đích thực của nghệ thuật văn chương.

nhà thơ trần nam phong, chủ tịch hội liên hiệp vhnt hà tĩnh.jpg -1
Nhà thơ Trần Nam Phong, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Tĩnh.

Hai biểu tượng Sông và Quê là nguồn mạch chính trong thơ

Trong thơ Trần Nam Phong, tôi thấy anh luôn trở đi trở lại, luôn trăn trở, luôn thao thức với hai biểu tượng chính là Sông và Quê. Với bài thơ "Bờ đê, thả gió, chăn trâu" anh đi qua những kỷ niệm chan chứa yêu thương với sông nước tuổi thơ: "Em ơi, gió núi đang về/ Trăng chiều ai thả bùa mê lên rồi/ Trái vườn kết mộng chùm đôi/ Gió chiều đang chín những lời hư không/ Bốn bề là núi là sông/ Là hương cổ tự thơm lòng thơ ngây/ Chiều hôm thương nhớ dâng đầy/ Em ơi chầm chậm đến ngày mai sau/ Bờ đê, thả gió chăn trâu/ Tay không, nón lá, áo nâu và diều/ Em như trăng sáng cả chiều/ Anh như mây móc đổ liều trận giông/ Mai này đi gánh nước sông/ Xin em gánh cả hư không tôi về". Hai câu cuối của bài thơ này mới thật thi vị làm sao khi tác giả hoán đổi hình ảnh "nước sông" và "hư không" cho tràn đầy cái "gánh yêu thương" của riêng mình.

Ở một thi điệu lục bát xúc động khác, ngay cả trong giấc mơ, Trần Nam Phong cũng mơ thấy Sông, thấy Quê và chợt nhận ra: "Dòng sông thức với phù sa/ Nên chi điệu ví đậm đà hồn quê/ Tháng năm vẹn một câu thề/ Cánh buồm xưa lại trở về bên sông/ Trong mưa bất chợt cầu vồng/ Tôi về mơ thấy nâu sồng mẹ trao/ Hồn quê mỏi vía gió lào/ Nghìn năm mây trắng bay vào trời xanh" (Khúc hạ 4)

Trong dòng chảy thi ca hôm nay, có một số nhà thơ đương đại đang hướng đến cách tiếp cận tư duy thơ hiện đại theo kiểu lập trình những suy tưởng mới, những ý tưởng mới để làm thay đổi nội dung trình hiện của các bài thơ, để làm cho những con-chữ-thơ có một đời sống tư tưởng sâu sắc hơn, đa nghĩa hơn, giàu hàm lượng tri thức hơn. Và phải chăng, đây cũng là một hướng cách tân của thơ đương đại, khi một số nhà thơ đang xem trọng sự đổi mới về "chất suy tưởng" của nội dung thơ hơn là sự đổi mới về mặt hình thức nghệ thuật câu chữ trong thơ.

Tôi nghĩ với thơ Trần Nam Phong, anh không cố "lập trình" để thay đổi cách trình hiện trong các bài thơ lục bát của mình để tìm một cách tân mới, nhưng anh luôn làm giàu "nội hàm" của biểu tượng Sông ở chiều sâu của những suy ngẫm về nỗi đời, nỗi người mang hệ triết luận như trong đoạn thơ sau: "Người đi ra bể tìm sông/ Ta về nhặt cái mênh mông cõi người/ Mà sao trĩu nặng trong đời/ Mây bay kiếp trước, mưa rơi kiếp này/…Anh còn để gió trên cây/ Một con sông chảy nắng đầy chiều hôm/ Dâng người xin chút thảo thơm/ Người ơi còn đó nỗi buồn đa mang/ Một đời cơn gió lang thang/ Gió không mang gió thì mang nỗi người" (Lục bát mùa thu)

Tốt nghiệp cử nhân khoa ngữ văn Đại học Sư phạm Huế và đỗ thạc sĩ Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, qua trải nghiệm sáng tác nhiều năm, thơ Trần Nam Phong đã đạt được cái nền của sự tài hoa trong văn chương. Và trong sâu thẳm hồn mình, anh với những kỷ niệm của một thời thương nhớ vẫn thao thức với biểu tượng về Quê như trong bài thơ "Ngày thường bên mẹ" như sau: "Về thăm bụi chuối, hàng cau/ Bất ngờ gặp trận mưa mau trắng trời/ Gọi trăng, trăng ngủ bên đồi/ Gọi người, người đã sau lời cỏ ru/ Khóc hời một kiếp ta xưa/ May ra còn lại thuở chưa có gì/ Thời gian trong chuyến thu đi/ Nghe trong cỏ biếc từ bi muộn phiền/ Mưa chay có thấm cửa thiền/ Làm sao mang được vô biên kiếp này/ Mẹ cười, tóc bạc phơ bay/ Ngoài đê tiếng gió heo may đã về".

Nỗi niềm với quê hương từ "Giấc mơ tuổi thơ" như còn đọng mãi trong tâm hồn người thơ: "Về quê gặp trận mưa rào/ Bao nhiêu mây móc lặn vào thịt da/ Mẹ còn đi chợ đường xa/ Mình con thơ thẩn ngóng quà tuổi thơ/ Thị vàng thơm tận giấc mơ/ Hội làng cô Tấm cài nơ hoa cà/ Đang đêm vọng tiếng tù và/ Hình như phía bụi tre ngà trổ măng/ Nước non biết mấy mùa trăng/ Đường xưa lông ngỗng sao băng trắng trời/ Tạ hồn biêng biếc giếng thơi/ Nỗi đau nguồn cội là nơi tìm về…".

anh trang 14 moi.jpg -0
Bìa tập thơ mới của nhà thơ Trần Nam Phong.

Biểu tượng của Sông và Quê là nơi Trần Nam Phong ký thác, gửi gắm bao tâm sự của đời người từ tuổi còn thơ đến khi trưởng thành và cho tới sau này. Sông gắn liền với quê hương, Sông cũng chính là nguồn mạch khởi đầu và nuôi dưỡng cảm xúc và nghĩ suy cho thi ca, ngay cả khi anh nghĩ về người mẹ và quê hương mình trong những câu thơ viết "Bên cửa sổ máy bay": "Trập trùng thế núi hình sông/ Chỉ thương dáng mẹ cánh đồng heo may/ Một giờ thao thiết mây bay/ Hồn con đi trọn tháng ngày gió sương/ Mai kia trong cõi vô thường/ Biết còn gặp mẹ thân thương thuở nào/ Mẹ ơi, đất thấp, trời cao/ Ngàn năm mây trắng nôn nao nỗi người/ Đồng ta lúa đã gặt rồi/ Bao nhiêu ngọn khói lên trời làm mưa". Một tứ thơ khá hay và hiện đại khi tác giả nhìn cuộc sống thế gian qua cửa sổ máy bay mà liên hệ với người mẹ và quê hương với cái nhìn chiêm nghiệm đầy suy tư.

Thơ lục bát vẫn là một thách thức với người làm thơ

Có một thực trạng, những năm gần đây, thơ lục bát bị không ít người nghi ngờ về khả năng biểu đạt tư duy mới trong dòng chảy của thơ đương đại, họ cho rằng lục bát là thể loại thơ quá gò bó, đơn điệu về vần luật, thanh luật và tiết tấu, chỉ biểu hiện được những cảm xúc quen thuộc của người Việt truyền thống và không phù hợp với tư duy thơ hiện đại. Ngược lại, khá nhiều người vẫn nhận thấy ở lục bát những ưu thế không thể thơ nào có được và họ bền bỉ vượt qua những khó khăn, trở ngại, thách thức để giữ gìn điệu tâm hồn Việt trong thơ lục bát bằng chính tài năng thi ca nỗ lực vượt bậc của mình. Đọc thơ lục bát của những tác giả này, ta thấy họ đã vượt qua được các không gian cũ, cảm hứng cũ, khuôn hình cũ, giai điệu cũ, thi tứ cũ, hình tượng cũ (đã được sử dụng quá quen thuộc trong thơ lục bát khi coi trọng việc biểu hiện cảm xúc trực tiếp và lạm dụng khẩu ngữ).

Và, tôi cho rằng, lục bát thơ của Trần Nam Phong là một trong số các tác giả như vậy khi hình ảnh quê hương, sông núi, con người vẫn là ảnh hình thân thương cũ nhưng dưới tầng câu, chữ đã thức dậy một nguồn mạch của chất thơ mới: "Làng tôi có lũy tre già/ Cái năm giáp hạt nở hoa trắng trời/ Người quê tần tảo muôn nơi/ Đêm đêm thao thức nỗi đời, nỗi quê/ Xa xôi ai có tìm về/ Con sông chảy giữa bộn bề lời ru/ Tháng năm vọng tiếng chim gù/ Nao nao vành nón mùa thu qua làng/ Bao người con gái sang ngang/ Trăng non như mảnh lược vàng bỏ quên/ Loang chiều ngọn khói bay lên/ Mong bình yên, nhớ bình yên cánh đồng".

Những câu thơ lục bát nói trên vẫn lấy sự giản dị làm trọng, vẫn chọn lọc hình ảnh gần gũi, quen thuộc làm mạch chính nhưng chất thơ cứ ngấm vào ta lặng lẽ giống như một khúc dân ca nồng nàn tình yêu quê hương.

Thời gian gần đây, tôi biết Trần Nam Phong không chịu dừng chân trên thành tựu của giá trị đã có được trên mảng thơ lục bát của mình, anh còn đang khai phá những trang mới trong mảng thơ tự do hướng đến nguồn cội lịch sử của quê hương miền Trung, nhằm chuyển hóa các sử liệu thành thi liệu trong một chất thơ mới vạm vỡ hơn, mang tính sử thi trường ca trên con đường sáng tạo thi ca không ngừng nghỉ của mình.

Tôi nghĩ rằng, trong mạch trường ca sử thi này sẽ vẫn không thể thiếu vắng được sự có mặt của những trường đoạn thơ lục bát, với giai điệu trữ tình vừa lãng mạn vừa có tính thế sự, nhân triết như trong bài thơ "Viết chờ sen lên" của anh: "Là ai tôi đã chào đời/ Là ai, tôi đã khóc cười trăm năm/ Buồn vui chín khúc ruột tằm/ Nhẹ tênh hồn vía, đăm đăm dáng hình/ Đường đời muôn nẻo phù sinh/ Mỗi ngày chọn một bình minh với đời/ Là tôi sống giữa đất trời/ Đa đoan gọi gió nói lời yêu thương/ Biết đâu trong cõi vô thường/ Nguyện làm ngọn cỏ lót đường người đi/ Biết đâu trên nẻo thiên di/ Nguyện làm chiếc lá yêu vì mùa xuân…". Trên chặng đường sáng tạo thi ca luôn đầy ắp khó khăn và thử thách, mỗi một nhà thơ đích thực không được phép dừng bước và tôi chúc cho Trần Nam Phong khẳng định được mình trong thời gian tới.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).