Đọc “Ám ảnh chữ” của Hữu Thỉnh, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2025

Nhà thơ Hữu Thỉnh - Cây bút phê bình cự phách

Còn nhớ năm 2010, nhà thơ Hữu Thỉnh công bố tập lý luận phê bình đầu tiên nhan đề “Lý do của hy vọng” chúng tôi đã viết bài khẳng định, do phải làm công tác Hội Nhà văn nên nhà thơ buộc phải viết lý luận phê bình. Bởi phải chủ trì các hội thảo, hội nghị, các lần trao đổi học thuật, các đợt triển khai nghị quyết của cấp trên.

Mười năm sau, tác giả lại cho ra đời cuốn tiểu luận phê bình thứ hai “Bến văn và những vòng sóng”. Tập này gồm 61 bài viết trong đó có một số là những tổng kết hội thảo, diễn văn, báo cáo tổng kết của người đứng đầu Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Các bài phê bình văn học viết về các nhà văn, nhà thơ lớn như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Thảo…

untitled-1.jpg -0
Nhà thơ Hữu Thỉnh tại lễ ra mắt sách “Ám ảnh chữ”.

Tập “Ám ảnh chữ” này được viết trong vòng 5 năm. Gồm 47 bài viết. Điều quan trọng và khác biệt nhất chính là nó được viết khi người viết đã được giải phóng khỏi mọi chức vụ. Lúc này đọc và viết chỉ còn là sự sung sướng và tự nguyện. Tác giả thổ lộ “dần dần lĩnh vực phê bình văn học làm tôi hứng thú không kém gì sáng tác”. Sẽ không có những tổng kết, báo cáo, diễn văn, đề dẫn. Bạn đọc sẽ thấy nội lực của Hữu Thỉnh khi trở lại với những tác giả mà anh đã viết trong tập trước với những khám phá mới.

Ví dụ như đánh giá về Chế Lan Viên, Hữu Thỉnh chỉ ra Chế Lan Viên có “vẻ đẹp âm tính” so với thơ mới mang “vẻ đẹp dương tính”. Đối với thơ Cách mạng thì Chế Lan Viên cũng góp 3 điều khác biệt đem lại sự hài hòa cho thơ Cách mạng. Đó là thăng hoa trí tuệ, đanh thép của chính luận và tráng ca, hùng ca. Chưa một nhà nghiên cứu nào đánh giá, so sánh như vậy. Hữu Thỉnh cũng tranh biện với những ý kiến khác để bảo vệ “Di cảo” của Chế Lan Viên “Di cảo là bản lĩnh, là nhân cách, là tâm huyết lao lung của một nhà thơ kì tài chứ không phải là sám hối, hoặc là phủ định như một số người cố tình gán ghép”.

Đánh giá về sáng tạo của Trần Dần trong trường ca “Đi! Đây Việt Bắc”. Hữu Thỉnh ví dụ 9 lần viết về lá, không lần nào giống lần nào, “Mỗi lần nhắc đến lá là mỗi lần thể hiện một cách nhìn, một tâm trạng khác nhau. Thế mới biết sáng tạo là câu chuyện của vô cùng”. Rồi người viết khẳng định: “Trần Dần đã đóng góp một giọng điệu riêng, một phong cách riêng, mang đến một giá trị bổ sung, làm phong phú thêm nền thơ ca chống Pháp trong tiến trình hiện đại hóa thơ Việt”.

Chúng ta đều biết Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ với nhiều thành tựu. Tác giả có những tập thơ, những tập trường ca được đánh giá rất cao. Đó là ngòi bút thơ ca tài hoa, sâu sắc. Với lợi thế đó, tác giả viết nhiều bài phê bình thơ của người cùng giới nổi bật trong tập này. Thống kê nhỏ cho chúng ta thấy có 4 bài tổng hợp, khái quát và phê bình chân dung ("Góp thêm cách nhìn về nửa thế kỉ văn học", "Truyện ngắn “lá cờ chuẩn” của Hữu Mai được dựng thành phim như thế nào", "Cảm nhận “Những bức chân dung văn hóa” của Hoàng Kim Đáng và Văn hóa trong quá trình xây dựng nước ta thành một nước phát triển"), Hữu Thỉnh chỉ có 9 bài viết phê bình văn xuôi so với 34 bài viết về thơ và trường ca. Như vậy đã rõ về việc dụng sở trường của mình của cây bút phê bình Hữu Thỉnh.

Viết về thơ bao gồm viết về tập thơ, về đời thơ, về trường ca của ai đó, tác giả đều đọc rất kĩ. Không ít lần chúng ta biết được công phu đọc của anh. “Tôi tự khuyến khích đọc thật chậm, đọc đi đọc lại rất kĩ từng bài để thấy hết những cố gắng của tác giả”. Hoặc “Tôi đã nhiều lần đọc tác phẩm này, lần nào cũng không cầm được nước mắt”.

Khi bình phẩm, bao giờ Hữu Thỉnh cũng chú ý đến sự tìm tòi, đổi mới về nội dung và bút pháp. Không ít lần, để thuyết phục bạn đọc, nhà thơ Hữu Thỉnh trở thành nhà bình thơ, bình bài thơ hay khổ thơ mà anh cho rằng độc đáo, sáng tạo.

Chẳng hạn, Hữu Thỉnh sau khi nhận định đã dẫn ra bài “Dựng nhà trên dãy Hoàng Liên” của Vũ Quần Phương, “một bài thơ toàn bích” và say sưa bình từ trang 184 đến 186. Ví dụ khác khi viết về Trần Nhương, tác giả vừa bình, vừa khen các bài thơ “Làng Sỏi”, “Vầng trăng trên đèo Ba Bông”, và “Vừa đủ”. Viết về nhà thơ Gia Dũng, Hữu Thỉnh bình kĩ hai bài thơ của tác giả là “Đò đêm” và “Chừng nào em về làng Đót?" rồi sung sướng kết luận “Tôi muốn nói lên sự sung sướng của nỗi bất ngờ và bất ngờ một cách sung sướng khi khám phá ra một Gia Dũng rất lạ, rất khác”.

Đọc các bài viết về thơ và trường ca, bạn đọc luôn thích thú được tác giả Hữu Thỉnh chỉ ra và chia sẻ những “câu thơ nhan sắc”. Tất nhiên không phải lúc nào tác giả cũng chọn đúng, cũng làm người đọc đồng tình, không chút phân vân. Nhưng đại đa số những câu thơ nhan sắc mà Hữu Thỉnh khen thì đúng là nhan sắc thật. Nhiều lắm các ví dụ, song chỉ dẫn ra một số câu tiêu biểu:

"Sau khi trải nỗi khổ to bằng thế giới/ Mẹ nhỏ lại/ Bằng đứa cháu kia thôi/ Một cô bé tóc bạc" (Trúc Thông).

"Chiếc ba lô bé nhỏ/ Treo vách nhà/ Đựng những ngày đẹp nhất đi xa" (Y Phương). "Hạt sương/ Ngủ trên chiếc lá/ Giật mình thức giấc/ Thấy mình màu xanh" (Trần Lê Khánh).

Không chỉ tinh tế về việc chọn những câu thơ nhan sắc, Hữu Thỉnh cũng rất giỏi việc khái quát nét riêng, độc đáo của mỗi nhà thơ mà anh động bút. Chỉ nêu hai ví dụ:

Đánh giá cống hiến của Bằng Việt:

“Sau hơn nửa thế kỉ cầm bút, Bằng Việt đã có những cống hiến xuất sắc về sáng tác, dịch thuật và khảo cứu. Anh là nhà thơ hàng đầu của thế hệ chống Mỹ. Thơ anh sớm có cách nhìn riêng, giọng điệu riêng, bút pháp riêng. Chất suy tưởng trong thơ anh phát triển theo sự vận động và thay đổi của đất nước”.

Đây là khái quát về Thi Hoàng, người luôn tìm tòi đã có “những câu thơ đẳng cấp và chắc sẽ có tuổi thọ cao”. “Đã rõ là Thi Hoàng đau đáu về đời, đau đáu về thơ. Nhưng anh vốn kị to tiếng, nên mạch thơ không bị lộ thiên, nó chìm nhuyễn vào sự sống. Và nhất là nó thành nhịp thở của hồn anh. Một người đang tự bạch, đang ngộ, đang chuyển cái năng lượng tâm hồn thành năng lượng chữ, người ấy phải nung nấu lắm chứ”.

Khác với Vũ Quần Phương độc canh ở mảng phê bình thơ, nhà thơ Hữu Thỉnh còn quan tâm đến văn xuôi, cụ thể là chín tập sách tiểu thuyết, ký sự. Ở đây, hơi tiêng tiếc là cái tinh tế, sắc sảo đã giảm đi mấy phần. Có lẽ người viết phê bình đã rời những sở trường của mình chăng?

Thành công hơn cả là bài viết về Nguyễn Trọng Tân, Nguyễn Bắc Sơn, Đỗ Hàn. Các bài viết về Phùng Văn Khai, Nguyễn Hữu Nhàn, Hoàng Quốc Hải, Trình Quang Phú, Hoàng Quảng Uyên thì thành công vừa vừa bởi một điều kị là tóm tắt, kể lại nội dung tác phẩm dài quá. Người đọc không thấy rõ nhà văn được nói đến. Nhất là với tác phẩm của Hoàng Quảng Uyên. Khi viết về tập “Trông vời cố quốc”, người đọc không thấy tác giả Hoàng Quảng Uyên đã đành, mà hình tượng Bác cũng không rõ.

Chỉ thấy nhà sử học không chuyên Hữu Thỉnh trình bày say sưa các sự kiện lịch sử xảy ra với Bác từ khi Người ra đi tìm đường cứu nước đến khi về Trung Quốc tham gia Hồng quân Trung Quốc mang quân hàm Thiếu tá với bí danh Hồng Quang. Trong cuốn sách vẫn còn nhiều lỗi chính tả do sơ suất đọc morát, và một số trích dẫn sai. Thật gay là bốn câu thơ ngắn trích, ba câu đều có từ sai hoặc thiếu:

"Trong vườn em trái ngọt đã “thấm” cành/ Hoa đã nở hương thơm dìu dặt tỏa/ Hạnh phúc đến chật vườn ong bướm “hót”/ Gió ôm mùi hương bay xa" ( tr. 470).

Tôi đối chiếu với “Sự im lặng biếc xanh”, trang 141, của Như Bình thì thấy tác giả Như Bình viết là: thắm cành, ong bướm hát và Gió ôm những mùi hương bay xa.

Tôi muốn dành những lời cuối để nói đến bài đầu tập “Góp thêm cách nhìn về nửa thế kỉ văn học”. Đây là một bài viết sâu sắc, công phu, vừa bao quát, vừa chi tiết, chi tiết từng tên tác giả và tác phẩm. Nhà phê bình Hữu Thỉnh đã khái quát rất chính xác hai việc lớn của 50 năm qua: Trả nợ quá khứ và nhập cuộc đổi mới. Tác giả đã giải thích rõ ràng, rất thuyết phục. Dẫn chứng về tác giả, tác phẩm vô cùng phong phú.

Riêng vấn đề biển đảo, Hữu Thỉnh dẫn chứng cha ông ta nói rừng vàng, biển bạc, mà anh chưa được đọc một áng văn hay nào viết về Biển. Nhưng 50 năm qua đã có "Đảo chìm" của Trần Đăng Khoa, "Trường ca Biển" của Hữu Thỉnh, "Tổ quốc nhìn từ Biển" của Nguyễn Việt Chiến, "Hòn đảo cuối chân trời" của Trần Nhuận Minh, "Quần đảo san hô" của Hà Đình Cẩn, "Từ biển mà lên" của Trịnh Công Lộc, "Hạ thủy những giấc mơ" của Nguyễn Hữu Quý, "Sóng trầm biển dựng" của Đoàn Văn Mật, "Đảo chìm và hơi thơ rừng chồi" của Vương Trọng, "Nơi khôn thiêng của biển" của Nguyễn Hữu Quang, "Trường Sa kì vĩ" của Sương Nguyệt Minh, "Biển xanh màu lá" của Nguyễn Xuân Thủy. (Mách nhỏ nhà phê bình Hữu Thỉnh là Trường ca "Biển mặn" của Nguyễn Trọng Tạo rất đáng kể vào đây!). Thật kính phục sức đọc, sức nhớ của một nhà thơ.

Nhà thơ Hữu Thỉnh viết “Phàm làm thơ, ai cũng mong đợi một lời bình. […]Sợ nhất là rơi vào im lặng”. Không biết tác giả có đợi lời bình từ việc viết phê bình hay không. Nhưng tôi cứ viết lời bình này, vì tôn trọng, khâm phục, quý mến nhà thơ tài năng Hữu Thỉnh, càng thêm quý mến nhà phê bình cự phách Hữu Thỉnh với 3 tập sách đã in!

Hà Nội, 17/6/2025

Vũ Nho

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).