Nhà thơ, họa sĩ William Blake: Sự vang vọng của "Khúc ca thơ ngây và từng trải"

Vừa qua, NXB Văn học & Book Hunter đã phát hành bản dịch tuyển tập thơ “Khúc ca Thơ ngây và Từng trải” của William Blake (28/11/1757-12/8/1827) - nhà thơ, họa sĩ người Anh chiếm giữ một vị thế độc đáo trong lịch sử nghệ thuật phương Tây ở cả lĩnh vực thị giác và văn chương.

Bản dịch “Khúc ca Thơ ngây và Từng trải” của dịch giả Nguyễn Tuấn Bình giới thiệu đến độc giả Việt Nam lần này sẽ phần nào lý giải vì sao những sáng tác ra đời từ hơn 200 trước vẫn có được sự vang vọng đến tận hôm nay.

1. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình thị dân có gia cảnh bình thường tại London, nhưng ngay từ nhỏ William Blake đã ước mơ trở thành nghệ sĩ. Người bố chiều lòng con trai đã đăng ký cho con theo học vẽ tại Trường Hội họa Henry Pars từ năm 1767 tới 1772. Nhưng rồi gia cảnh của cha mẹ ông đã không kham nổi mức học phí tại đó và họ phải tìm đến nghệ sĩ chạm khắc James Basire (1730-1802) và được chấp thuận cho theo học nghề trong vòng 7 năm tiếp theo để trở thành một thợ chạm khắc độc lập.

Năm 1779, Blake ghi danh vào học tại Học viện Nghệ thuật Hoàng gia khi đó mới thành lập để trở thành họa sĩ và di sản nghệ thuật ông để lại là những tác phẩm đầy mới mẻ, táo bạo. Ông đến với thi ca và bắt đầu hát lên những vần thơ của mình khi tham dự những buổi thảo luận về nghệ thuật và văn chương của nữ sĩ Harriet Mathew vào những năm 1780.

1.jpg -0
Chân dung nhà thơ, họa sĩ William Blake do Thomas Philips thực hiện năm 1807 hiện được lưu giữ tại Phòng Trưng bày Chân dung Quốc gia tại London (Anh).

Dịch giả Nguyễn Tuấn Bình tâm sự: “Do công việc phải va chạm với sách vở hàng ngày, tôi cảm nhận rất rõ trở ngại khi đưa thi ca tới công chúng. Khi lần đầu nhận bản thảo để dịch thuật, nó toàn là… chữ!

Có hôm vô tình tôi lật giở cuốn “Những cuốn sách làm thay đổi thế giới” do Đông A phát hành, tôi thấy một trang sách nói về “Khúc ca Thơ ngây và Từng trải” của William Blake. Hóa ra William Blake chẳng những là thi nhân - ông còn là họa sĩ. Ông đều tự vẽ minh họa cho thi phẩm của mình, hơn thế, ông còn phát minh ra lối “sách minh họa”: kiểu in ấn đồng thời cả phần chữ và hình họa được cho là từ ông mà ra. Đó là giá trị khiến thi phẩm đó “làm thay đổi thế giới” khi mỗi trang sách đều chứa lời thơ bao quanh bởi hình minh họa độc đáo. Do vậy, mỗi ấn bản đều có sự khác biệt.

Khi đó tôi mới thấy rằng, “Khúc ca Thơ ngây và Từng trải” là một tác phẩm thi - họa không thể tách rời. Độc giả ngắm tranh - đọc thơ mới vỡ lẽ nhiều ẩn ý trong thi phẩm của ông. Tôi đã thuyết phục đơn vị làm sách in màu nguyên bản toàn bộ tranh minh họa tập thơ của ông. Vì thế, khi cầm trên tay tuyển tập “Khúc ca Thơ ngây và Từng trải”, bạn đọc sẽ không chỉ thấy đó là một tập thơ, mà còn là một “tác phẩm nghệ thuật”.

2. Nhắc tới William Blake, người ta nhớ về những vần thơ tuyệt diệu như “Chiên con” (The Lamb), “Oai Hùm” (The Tyger), “Đứa bé nạo ống khói” (The Chimney Sweeper) hay “Đồng xanh rì rào” (The Echoing Green) trong “Khúc ca Thơ ngây” (Songs of Innocence, 1789) và “Khúc ca Từng trải” (Songs of Experience, 1794).

Trong đó, “Khúc ca Thơ ngây” là tập thơ đáng chú ý đầu tiên trong sự nghiệp thi ca của William Blake gồm 19 bài thơ in trên 26 bản khắc là các bài thơ viết cho thiếu nhi thể hiện nét ngây thơ hồn nhiên và dễ bị tổn thương của con trẻ, được bảo vệ và nuôi dưỡng bởi quyền năng vượt xa bản thân chúng. Trong “Đứa bé nạo ống khói”, khúc ca ngân lên trong trẻo được Nguyễn Tuấn Bình dịch:

Thiên thần dặn dò Tôm, hãy thật ngoan con nhé,
Chúa chính là cha con, giúp con luôn vui vẻ.
Thế rồi Tôm tỉnh giấc, bật dậy trong bóng tối,
Túi khoác và bàn chải, chúng em vào việc thôi.
Dẫu sáng lạnh lẽo, Tôm vẫn thấy ấm lòng:
Chẳng việc gì phải sợ, cứ hết mình là xong.

Còn trong “Khúc ca Từng trải” xuất bản 5 năm sau đó lại tập trung vào những tâm hồn tuyệt vọng bị đe dọa, thiếu đi sự chở che, bao bọc với 26 bài thơ tạo thành phần 2 “Khúc ca Thơ ngây và Từng trải”. Trong bài thơ “Luân Đôn” (London) tác giả đã phải thốt lên:

Muôn vàn tiếng gào kêu từ bao kiếp sinh linh
Muôn vàn tiếng khóc than từ con trẻ sơ sinh,
Ôi bao tiếng khẩn nài, ôi bao vòng kiềm tỏa,
Khối xiềng xích kìm kẹp vang trong tâm trí ta…

Dịch giả Nguyễn Tuấn Bình chia sẻ: “Tôi bắt tay vào chuyển ngữ hơn 50 bài thơ thuộc thi tập “Khúc ca Thơ ngây và Từng trải” cùng bài trường thi “Điềm báo Thơ ngây” như một cánh cửa chào mời bạn đọc Việt Nam vào thế giới của William Blake - người thi nhân, họa sĩ - vốn luôn giữ vị trí độc tôn trong lịch sử nghệ thuật phương Tây. Thực sự thì dịch thuật vốn đã là thách thức rồi huống hồ là dịch thơ, mà còn là thơ cổ thế kỷ XVIII!

Trong suốt quá trình dịch thuật, tôi cố gắng giữ cái đầu lạnh, không cố đoán ý hay để con chữ bay bổng theo chủ quan cá nhân. Với mỗi bài, tôi tìm hiểu các tiểu luận phân tích cố gắng bám sát nghĩa, sao phỏng đúng thể thơ và cả cách gieo vần, cốt sao truyền tải được phần nào tinh thần thơ. Làm sao vừa sát nghĩa, lại có nét bay bổng của thi ca, giữ trọn vần điệu…, thú thật là khó!

Tôi đã làm việc nghiêm túc và cẩn trọng, nhiều bài dịch xong, rồi tôi dịch lại hoàn toàn. Tôi đã gắng hết sức, và tất nhiên chẳng thể truyền tải lời thơ của tác giả sang một ngôn ngữ khác mà không làm rơi rớt tư tưởng và tính nhạc trong đó…”.

3. Theo các nghiên cứu đã được công bố, điều đặc biệt ở William Blake, là trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, ông không bao giờ cho xuất bản một tập thơ theo lối thông thường. Vào năm 1788 khi đang ở tuổi 31, Blake đã thử nghiệm với phương pháp khắc nổi, phương pháp ông sẽ sử dụng để tạo ra hầu hết các cuốn sách, bức họa, tập sách nhỏ và các tập thơ của mình.

Với sự trợ giúp của người vợ tận tụy, hai người in ấn, tô màu, khâu thành tập sách từ những tờ giấy màu thô ráp rồi đem đi bán. Tuy việc in ấn khó khăn và cầu kỳ như vậy, nhưng chẳng bản in nào của ông bán được quá 30 bản và nhiều bức người ta cho rằng chỉ in một lần duy nhất. Bởi thế, trong suốt cuộc đời nghệ sĩ của mình, William Blake và vợ sống trong cảnh thanh bần mà hạnh phúc. Và khi ông qua đời, người vợ tần tảo đã bên ông suốt đời đã phải nhờ đến một khoản tiền vay mới đủ chi trả cho tang lễ.

2.jpg -1
Bài thơ "Oai Hùm" (The Tyger) một bài thơ tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách nghệ thuật của William Blake được in kèm hình minh họa độc đáo.

William Blake cũng giống như nhiều vĩ nhân khác, lúc sinh thời ông gần như không được người đương thời quan tâm và công nhận, thậm chí còn nhận về những lời phê bình, công kích nặng nề. Thậm chí, người ta còn gọi ông là “một gã mất trí bất hạnh”. Mãi đến sau khi ông qua đời, công trình nghiên cứu đầu tiên về William Blake có tên là “Life of William Blake” (Cuộc đời của William Blake) gồm 2 tập của Alexander Gilchrist xuất bản năm 1863 đã thu hút sự chú ý của các nhà phê bình và từ đó Blake được coi là một nhân vật quan trọng đối với nền thi ca và nghệ thuật Anh.

Vào những năm 1890, Blake tiếp tục nhận được sự đề cao của William Butler Yeats và Edwin John Ellis. Họ đã cùng nhau hợp tác thực hiện công trình đồ sộ gồm 3 tập với tràn ngập các tranh minh họa của Blake và lần đầu giới thiệu đến công chúng những dòng thơ tiên tri của ông. Từ đó, sức lôi cuốn của William Blake lan rộng khắp thế giới không chỉ trên những vần thơ. Đã có những cuộc triển lãm lớn về nghệ thuật của Blake tại London (1927), Philadelphia (1939) cho tới Tokyo (1990), Barcelona và Madrid (1996). Hiện nay, bộ sưu tập tranh vẽ và tranh keo của William Blake nằm rải rác tại các thư viện và bảo tàng lớn trên thế giới.

Vào năm 1957, Hội đồng Hòa bình Thế giới đã tiến hành hoạt động kỷ niệm 200 năm ngày sinh của William Blake và tôn vinh những đóng góp, sáng tạo đột phá trong thi ca, hội họa và hoạt động in ấn. Tới năm 2022, khi đài BBC bầu chọn 100 người Anh vĩ đại nhất mọi thời đại, William Blake xếp ở vị trí số 38, đủ cho thấy tầm ảnh hưởng không nhỏ của ông đối với đời sống nghệ thuật của nhân loại.

Chia sẻ những cảm xúc khi hoàn thành việc giới thiệu bản dịch “Khúc ca Thơ ngây và Từng trải” đến với độc giả Việt Nam, dịch giả Nguyễn Tuấn Bình xúc động nói: “Gắn bó non nửa năm với những vần thơ của William Blake, tôi cảm nhận thế này: Văn chương, thơ phú là công cụ để truyền đạt tư tưởng và câu chuyện. Nếu lời thơ tự nhiên, giản dị, cô đọng, chất chứa tư tưởng và đâu đó ngân vang giai điệu trong tâm hồn ta, thì nó đã hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng của mình…”.

Nguyệt Hà

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).