Nhà thơ Ánh Tuyết: Vẫn “Còn đang đàn bà”

Lâu nay cái tên Ánh Tuyết, một nhà thơ nữ ở quê lúa Thái Bình đã trở nên quen thuộc với độc giả bởi những bài thơ tình dào dạt, mê đắm và không kém phần dữ dội. Chỉ đọc tên một số tập thơ đã thấy chất nữ tính nổi trội, dám nói thẳng băng về những điều khó nói lâu nay: "Còn đang đàn bà"; "Đá nổi mây chìm"; "Bão tạt ngang"; "Có thể là yêu".

Hay những câu thơ như một sự phát hiện, một chớp sáng trong tình yêu, thậm chí là trong chuyện… chăn gối: "Quên thì buồn nhớ lại đau/ Biết còn có một kiếp sau mà chờ"; "Người đàn bà cháy lên/ Nồng nàn và vụng dại"; "Lửa đã cháy lên rồi… kệ anh đấy! Mà tro tàn chưa kịp tái sinh em"; "Bao năm dội nước than hồng, chả khao khát, chả ước mong điều gì"…

Nhà thơ Ánh Tuyết: Vẫn “Còn đang đàn bà” -0
Nhà thơ Ánh Tuyết

Chạm tuổi bảy mươi, nhưng không chỉ người yêu thơ chị mà bạn văn, bạn cùng trang lứa vẫn thường "khen", Tuyết "vẫn còn đang đàn bà". Thôi, chuyện nồng nàn, mặn ngọt, dữ dội, dịu êm than hồng, lửa lạnh… là chuyện của mênh mông cuộc đời, cuộc yêu, nhưng chỉ nói về văn chương thì Ánh Tuyết vẫn đang rạo rực, bứt phá.

Đến nay chị đã in tám tập thơ, bảy tập truyện ngắn, tiểu thuyết và đang viết tiếp cuốn tiểu thuyết - tự truyện, cùng tập truyện dành cho thiếu nhi. Người đàn bà làm thơ lấy đâu ra thời gian để sáng tác khi cùng lúc chị phải đảm nhiệm nhiều sứ mệnh. Một cô giáo ở trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình. Một người lãnh đạo Hội Văn học nghệ thuật tỉnh. Một Hội trưởng Hội Kiều học vùng quê mà Đại thi hào Nguyễn Du nương náu mười năm "thập tải phong trần". Nhưng trong số những cái "một" ấy, chị yêu nhất, say nhất, bùng nổ nhất vẫn là… một người viết.

Một người viết đã đam mê và mạnh bước trên đường văn gần nửa thế kỷ. Riêng về thơ, đã định hình cái duyên mặn mòi của một cây bút đồng chiêm, mặn mà với lúa khoai, con tôm con cá, với những bữa cơm mùa gặt, "Bát mắm tép chưng lát khế chua vàng/…ngồng cải kho nhừ thơm một nét quê hương"; những đêm ngủ ở làng xôn xao bến nước, lửa thơm tro trấu, sóng dậy gối chăn: "Đêm ở quê đàn bà yêu chồng nồng nàn hơn người thành phố".

Đã định hình cái xao động, nén chặt và bung phá của tình thơ - thơ tình dữ dội, thơ bùng lên cháy tận sức mình như than lửa: "Sẽ có ngày mẩu than thành lửa/ Lửa thiêu đốt anh không thể dập được đâu". Bùng lên "như bão, như lũ, như thác" để rồi ru anh về những miền sáng dịu mênh mang, trong trẻo: "Em neo lời thầm thì lên trăng/ Trăng sáng lòng như trăng vậy".

Đã định hình một giọng thơ rung động với các chân trời xa ngái, cánh rừng không mỏi, từ núi non ra biển cả. Thơ Ánh Tuyết mượn tên đất tên làng để nói về cái đẹp tình người xứ sở, mượn cái ngoài ta để nói về cái đẹp, cái lặng trong ta. Câu thơ Tây Bắc riêng tặng chị: "Đèo cao đổ dốc chân rừng/ Như câu nói dối giữa chừng bỏ quên". Cơn khát Việt Trì là cơn khát của tình yêu ngày xa: "Nhà anh còn bưởi Đoan Hùng/ Có hay cơn khát tận cùng đang sôi".

Cứ tự nhiên như than, như nước, như lửa, như anh Nô, Thị Màu mà nói những điều nóng lạnh của tâm hồn, trái tim. Ấy là cách thơ Ánh Tuyết. Là người đứng trên bục giảng, nhưng cô giáo không thích diễn đạt bằng những điều to tát, bài bản như phong cách, thi pháp sáng tạo, mà chỉ xem là một cách. Cái cách cảm, cách nghĩ để nói được những điều thật nhất, đúng với tâm trạng, với cảm xúc của mình nhất, cái cách để đến với mọi người, và mọi người cùng đồng sáng tạo.

Nhà thơ Ánh Tuyết: Vẫn “Còn đang đàn bà” -0
Bìa các tập thơ của nhà thơ Ánh Tuyết.

Tôi muốn nói kỹ hơn về tập thơ mới xuất bản "Niềm tự trọng của những đóa hoa" (NXB Hội Nhà văn, 2021), Ánh Tuyết vẫn tiếp tục mạch cảm xúc dồi dào, thăng hoa, cùng với sự kết lắng của vốn sống, vốn tri thức, viết nên những câu thơ, những bài thơ giàu chiêm nghiệm hơn, vẫn dạt dào, say đắm mà minh triết, tỉnh táo. Những đóa hoa biết tự trọng hay là minh triết của sắc màu và hương vị? Những đóa hoa vốn đã đẹp rồi thì cái cần hơn nó được đặt ở đâu, được trao vào tay ai, người nhận đón nó ra sao? Rất nhiều câu hỏi như thế: "Bình xưa hoa mới đã thay/ còn mong chi nỗi lắt lay trời chiều?". Người nhận không muốn nhận. Người tặng tặng vì tình thương yêu hay là vì một "nghĩa vụ" nào đấy. Tùy vào tâm trạng, hoàn cảnh mà hiểu về cái nỗi lắt lay ấy. Trong tập cũng có nhiều bài thơ gợi lên những câu hỏi tương tự. Tôi nghĩ, thơ như thế sẽ lắng đọng, sẽ không bị trượt đi là nhờ ở cái tứ, cái tư tưởng thẩm mĩ xuất hiện đồng thời cùng với trường cảm xúc dâng trào.

Mạch thơ xuyên thấm trong tập là tình yêu đôi lứa, từ lúc tóc xanh đến khi mây trắng trên đầu, thậm chí khi chỉ còn một người ở lại với cõi đời này. Từ lúc  "đùa dai" buổi "hoa phượng dưới trời xanh" đến "Thị Màu đừng bỏ chiếu chèo"; "Mời chồng về ăn tết"; "Đám cưới hai liệt sĩ"… thơ giăng màn sương tâm tưởng, đánh thức bao nhiêu kỉ niệm, gợi nên bao hạnh phúc, khổ đau và cuối cùng là một niềm tin thánh thiện.

Lâu nay, những bài thơ tình hay, còn lại mãi, thường là những li biệt, xa cách, hi sinh, là nỗi nhớ nhung trong chờ đợi, như người yêu, người vợ ngóng đợi người thương yêu trong chiến tranh, "Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau" ("Núi Đôi" - Vũ Cao), "Em níu giường níu chiếu đợi anh" ("Nghe tiếng cuốc kêu" - Hữu Thỉnh). Còn thơ tình hay và lạ thì ta gặp ở Ánh Tuyết.

Hai liệt sĩ được hai nhà, hai họ tổ chức lễ cưới thì lạ quá! Đám rước dâu là đám rước hai di ảnh về một nhà: "Hai bát hương hai chốn/ Giờ về chung một bình". Thương quá! Xót xa quá! Lạ đến bất ngờ, đến tận cùng xa lạ, đó là hiện thực. Nhưng hiện thực ấy kìm nén và vụt hiện và cháy lên một mặc khải, một chân lý thì chỉ có thơ làm được. Cô dâu chú rể sẽ sống mãi hạnh phúc bên nhau. Hai liệt sĩ là sợi dây nối liền hai họ, hai quê và lớn lao hơn là tình yêu con người, tình yêu đất nước. Những hố bom sâu trong chiến tranh sẽ dần được lấp đầy. Ta hiểu thêm một lần sự thủy chung ở đây dữ dội và lớn lao.

Bài thơ "Mời chồng về ăn Tết" lại trong một tâm trạng khác. Với em, anh chỉ đi xa đâu đó ít ngày, ít tháng, dài hơn là ít năm. Em và các con vẫn đợi: "Sống giao thừa chẳng có nhà/ Rượu nồng hoa thắm xót xa… đợi người". Cái Tết hoa đào, bánh chưng và kỉ niệm vẫn mãi vương vấn, ngọt ngào, thi vị. Thì ra chẳng có sự âm dương hai ngả nào, khi lòng yêu thương vẫn luôn có nhau, bên nhau.

Day dứt. Khát khao.Vươn tới. Nguồn mạch thơ ấy khi là những vỉa chìm, khi hiển lộ, khi thăng hoa trong thơ. Có thể nhắc đến một số bài trong tập, đọc xong rồi vẫn ám ảnh mãi: "Niềm tự trọng của những đóa hoa"; "Mời chồng về ăn Tết"; "Đám cưới hai liệt sĩ"; "Cỗ của người âm"; "Gửi chàng Chiêu Hổ"; "Chợ tình Khau Vai"; "Ta còn con chữ gửi trên cuộc đời"…

Trong các bài thơ ấy chất chứa những suy tư, mãnh liệt đấy mà gói ghém trong những câu chữ bình dị, chỉn chu của một nhà sư phạm: "Lá xanh đã bọc mấy lần vẫn hương" (Hương thầm). Rồi những lời nhắn gửi, những mong ước nhỏ bé mà vang động, vươn xa: "Học sen học cả cách tàn của sen" (Sen tàn). Đến những bất ngờ mà ngẫm ra lại thấy thuận tự nhiên, hợp lẽ đời: "Hoa có nói gì đâu mà hoa cứ hương" (Lặng lẽ). Và sự nhạy cảm, sự biết buồn khi cần phải buồn, để rồi đứng dậy: "Đêm nghe tiếng mõ giật mình/ Thời A còng Phật cũng đành bó tay" (Chùa thời @).

Bạn văn Thái Bình thường nói về Ánh Tuyết: thi sĩ của làng quê, dân dã, nâu sồng, thi sĩ của tình yêu. Cái tạng của chị, cái cách của chị chính là một bút pháp đã chín, đã ổn định. Đó là một mặt mạnh. Như một người đã lặng lẽ đi qua những con đường làng, qua bao nhiêu đèo dốc, bây giờ thênh thang đường lớn. Bây giờ đường lớn lại có những vật chướng ngại không dễ thấy. Đó là sự quen thuộc, sự đồng phục của thơ, nhất là thơ tình yêu. Ánh Tuyết thấy rõ điều đó và cách đi của chị là chầm chậm, từng bước vững chãi, tìm ra nơi đặt bàn chân đúng thật mình. Không lặp lại mình có khi lại là điều khó nhất trong sáng tác. Mừng tập thơ mới của chị. Mừng cho "niềm tự trọng" của Hoa và của Thơ. Sau rất nhiều giông bão cuộc đời, mừng cho người đàn bà thơ vẫn nồng nàn yêu và sinh nở những đứa con trong tột cùng hạnh phúc.

Hải Đường

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).