Nguyễn Trãi - Tầm cao đạo lý, công lý!

Trong một lá thư gửi tướng giặc Minh (trong "Quân trung từ mệnh tập"), Nguyễn Trãi viết: "Ta thường nghe, binh cốt để bảo vệ cho dân, không phải là để làm hại dân, dẹp yên để không phải giết, không phải là để giết nhiều người. Cho nên có câu rằng: Binh là bất đắc dĩ mới phải dùng". Câu nói toát lên vai trò, chức năng, nhiệm vụ của "binh" (quân đội) là để bảo vệ dân, yên dân.

Cả thế giới hôm nay đang cố gắng phấn đấu theo quan niệm: "Binh là bất đắc dĩ mới dùng". Thế nhưng, từ hơn 500 năm trước, chính Nguyễn Trãi là người triệt để nhất với quan niệm ấy khi dùng ngòi bút đấu tranh cho hòa bình của nước, cho sự an lành của dân. Ông đã thực sự ở vị thế đứng trên kẻ thù, ở tầm cao công lý để kết án tội "dối trời lừa người" nhằm mục đích đuổi kẻ xâm lược ra ngoài bờ cõi.

Theo lẽ thông thường, để vạch tội kẻ thù, phải có điểm tựa đạo lý. Nguyễn Trãi đã lấy điểm tựa là lập trường chính nghĩa, lẽ phải và văn hóa đạo lý phương Đông từng được coi là "tinh hoa" ở đất nước kẻ xâm lược. 

untitled-3.jpg -0
Tranh minh họa Lê Lợi và Nguyễn Trãi.

Với trên 70 bài viết trong đó phần lớn là những lá thư luận chiến đanh thép, "Quân trung từ mệnh tập" có điểm đặc biệt là tần số xuất hiện của hai chữ "lừa dối" rất cao - 36 lần: "Tính mạng của mấy vạn đàn ông, đàn bà ở trong thành, đều bị các ông lừa dối làm hại, làm cho bọn người không tội một mai bị chết". Lừa dối để hại người: "Thế là ngài không những lừa dối một mình tôi, lại còn lừa dối cả hơn sáu bảy nghìn người ở vệ sở các thành. Tôi lấy lòng tôn kính Triều đình, thương hại tính mệnh hơn sáu bảy nghìn con người, nên nghiêm cấm quân sĩ không được phạm chút tơ hào. Thế mà ngài nghe kế của bọn tiểu nhân, định lấy lòng hại tôi để lây hại cho người khác…".

Mượn ngay đạo lý - hạt nhân của học thuyết Khổng Mạnh, Nguyễn Trãi gọi là "đạo trời", "đạo Thánh nhân", "mệnh trời", "vận trời", coi đó như những bài học ứng xử trong quan hệ giữa các nước láng giềng (ngày nay gọi là quan hệ quốc tế): "Ta nghe Mạnh Tử có bảo rằng: "Chỉ có người nhân giả là có thể cho mình là nước lớn mà đi lại tốt với nước nhỏ; người trí giả là có thể cho mình là nước nhỏ mà hòa hảo với nước lớn. Nước lớn mà đi lại với nước nhỏ chính là biết vui theo đạo trời. Nước nhỏ mà hòa hảo với nước lớn chính là biết kiêng nể mệnh trời".

Bốn cây cột nhân giả (người nhân nghĩa), trí giả (người có trí tuệ), đạo trời (nước lớn quan hệ bình đẳng với nước nhỏ), mệnh trời (nước nhỏ hữu nghị với nước lớn) đã dựng nên ngôi nhà triết học Mạnh Tử. Hầu hết các hiền nhân quân tử phương Đông đều trú ngụ trong ngôi nhà ấy. Một hàm ý tinh tế ẩn sâu đằng sau câu chữ: Nếu là bậc hiền nhân quân tử sẽ chẳng có ai phá ngôi nhà mình đang ở!?

Tiếp sau là đạo lý làm người: "Vương giả không lừa dối bốn biển, Bá giả không lừa dối bốn láng giềng, cho nên Văn hầu không đánh ấp Nguyên, Thương quân không bỏ việc thưởng người dời cây gỗ; người mà không có tin thì làm gì được". Theo "Tả truyện", Tấn Văn Công nói sẽ đánh ấp Nguyên trong ba ngày. Vây đúng ba ngày ấp Nguyên không chịu hàng, Văn Công bỏ không vây. Nội gián báo ra ấp Nguyên sắp hàng nhưng Văn Công vẫn lui quân vì cho rằng nếu cứ vây nữa là thất tín. Chuyện này trở thành điển tích cho chữ "tín" trong quân sự.

Thời Tần, Thương Ưởng dựng cây gỗ ở cửa Nam thành, nói ai dời sang cửa Bắc sẽ thưởng 10 lạng vàng. Không ai dám làm. Ông nói tiếp ai dời sẽ thưởng 50 lạng vàng. Có người làm, Thương Ưởng thưởng ngay để chứng minh mình giữ chữ "tín". Các điển cố này in đậm trong văn hóa cổ đại Trung Hoa được mượn để mỉa kẻ xâm lược: văn hóa cha ông các người có "truyền thống" như thế mà sao đến các ngươi thì thất tín làm vậy!?

Dù có mưu ma chước quỷ, dù đủ miệng lưỡi lấp liếm, kẻ xâm lược cũng không lừa dối được lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, lòng yêu hòa bình (mà Nguyễn Trãi gọi chung là "lòng người") của toàn dân ta: "những điều phải trái, ngay cong, thực không thể trốn được sự xét đoán sáng suốt của lòng người. Ngạn ngữ có câu: "Như người uống nước, nóng lạnh biết ngay".

untitled-4.jpg -1
Một tác phẩm quý về thơ văn Nguyễn Trãi.

Trên cơ sở điểm tựa đạo lý ấy Nguyễn Trãi vạch ra những tội "trời không dung đất không tha" của giặc, một cách đanh thép, hùng hồn, sắc nhọn. Cao nhất là tội lừa dối trời: "Phàm mưu việc lớn lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu. Chỉ nhân nghĩa có gồm đủ thì công việc mới xong xuôi. Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội, kỳ thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên. Nhân nghĩa mà lại thế ư? Nay ở nước mày, dân oán thần giận, kế tiếp đại tang, thế mà không biết tự xét lỗi mình, lại còn cùng binh độc vũ, cam lòng xâm lược phương xa, khiến cho sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi".

"Điếu dân phạt tội", hiểu đầy đủ theo ngữ nghĩa là thương dân sống khổ mà vâng mệnh trời, đánh kẻ có tội để cứu dân. Nhà Minh đã lấy danh nghĩa nhân đạo cao đẹp này, "kỳ thực" để cướp nước ta, bóc lột, vơ vét, cưỡng hiếp dân ta. Đó là tội lừa dối trời đất lớn nhất, đúng hơn là tội lừa dối đạo lý. Thế nên chúng mang trong tim đen sự không thành thực: "Sách Truyện có câu: "Bất thành vô vật" (hiểu thoát ý: người không thành thực thì làm việc gì cũng xấu), là bởi lòng mà không thực thì việc gì cũng là giả dối cả... Tất như lời Khổng Tử nói "Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an", thế thì nhân tình thực dối thế nào, mảy may cũng không thể che giấu được".

Câu đầy đủ trong "Luận ngữ" là: "Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an, nhân yên sưu tai! Nhân yên sưu tai", nghĩa là "Xem việc làm thế nào, tại sao mà làm, có vui vẻ mà làm hay không, (thì) có giấu ai được! Có giấu ai được!". Ý câu này rất rõ: Phải xem xét hành động (xem việc làm thế nào); mục đích, động cơ hành động (tại sao mà làm); trạng thái chủ quan của chủ thể (có vui vẻ mà làm hay không). Soi câu nói mang tính chân lý này của Khổng Tử vào việc "các người" kéo quân sang giết người cướp của, thì "không thể che giấu" sự "thực dối" (bản chất ăn cướp) được.

Mang một tội ác man rợ đến một đất nước nhỏ bé yêu hòa bình công lý thì chúng phải có cả một "chiến lược" lừa dối. Lừa dối dân Trung Quốc, lừa dối dân ta, và dĩ nhiên lừa dối cả nghĩa quân Lê Lợi. Thế nên phải khoác loác, ngay cả khi thế đã cùng lực đã kiệt: "Hẳn nếu giỏi công thủ thì sao không đánh ta ngay thuở ở Khả Lam hãy còn nhỏ yếu, mà bây giờ lại giương vây khoác loác như thế ư?... Huống chi lại bưng bít tai mắt người ta, đặt điều lừa phỉnh nói phao là viện binh sắp đến, Trương Phụ lại sang".

Theo lẽ công bằng, đã phi nghĩa và giả dối thì không thể che mắt được chính nghĩa và sự thật: "Nếu cứ như trước, kéo dài năm tháng, chỉ lấy lời nói suông cùng lừa dối nhau, muốn đợi quân khác đến cứu viện như ngày trước đã làm, ngoài mặt thì hòa giải mà ngầm có mưu khác, rồi đại quân kéo đến… như thế thì ngu phu ngu phụ cũng còn chẳng tin được, huống chi tôi là kẻ tuy không có mưu trí mà lại tin thế ư?". Sự mỉa mai đã giật phăng cái mặt nạ "hòa giải" giả dối để làm trơ ra bộ mặt thật phản phúc, trơ trẽn, đáng cười, đáng khinh "ngoài mặt thì hòa giải mà ngầm có mưu khác, rồi đại quân kéo đến". Đối phương bị hạ bệ thảm hại một cách đích đáng: "như thế thì ngu phu ngu phụ cũng còn chẳng tin được, huống chi…?".

Thay mặt công lý, Nguyễn Trãi đã nói với cả nhân loại rằng kẻ thù này thì lừa dối là bản chất và chúng luôn coi đó một "đắc sách": "Sau lại bảo ta sai người dâng biểu cầu phong, mà nói rằng "sau khi dâng biểu lập tức rút quân".  Đến lúc biểu đã đệ đi mà quân chưa thấy rút, lại còn dựng thêm rào lũy, sắm sửa đồ binh, tự cho là đắc sách lắm. Bội ước thất tín đến thế là cùng…". Mấy chữ cuối đã phơi bày tim đen của kẻ đi giết người nhưng miệng lại rêu rao điều nhân nghĩa: "Bội ước thất tín đến thế là cùng…".

Trong lá thư khác gửi tướng giặc, Nguyễn Trãi tự hào khẳng định nước ta "là nước thi thư, những bực trí mưu tài thức đời nào cũng có. Vì thế phàm những việc ta làm đều là đúng lễ nghĩa, hợp trời thuận người …". "Lễ nghĩa", "hợp trời thuận người" là công lý, đạo lý cũng là chân lý. Đó là những yếu tố nền móng đã nâng tầm vóc chân dung anh hùng Nguyễn Trãi sừng sững vững chãi trong bầu trời văn hóa hòa bình nhân loại!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).