(Đọc tập thơ “Nguyễn Quang Hưng 68”, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2021)

Nguyễn Quang Hưng dùng dằng đôi nẻo

Thơ lục bát chất phác, giản dị, dễ sắp xếp vần, nhưng khó vươn đến đỉnh của cái hay, của sự tinh tế. Đòi hỏi người viết thơ lục bát không ngừng thể hiện dấu ấn sáng tạo, giọng điệu riêng, tư duy thẩm mỹ trên tinh thần mới. Trong 12 tập thơ trước, Nguyễn Quang Hưng đã ít nhiều cho người đọc thưởng thức những vần thơ lục bát. Nhưng phải đến “Nguyễn Quang Hưng 68”, người đọc mới có cái nhìn tương đối về thơ lục bát của anh.

 

“Nào đi cho tận nhân tình
Trăm năm đắm đuối nguyên hình cỏ non”

                           (Đánh vần tên)

Thơ lục bát chất phác, giản dị, dễ sắp xếp vần, nhưng khó vươn đến đỉnh của cái hay, của sự tinh tế. Đòi hỏi người viết thơ lục bát không ngừng thể hiện dấu ấn sáng tạo, giọng điệu riêng, tư duy thẩm mỹ trên tinh thần mới. Trong 12 tập thơ trước, Nguyễn Quang Hưng đã ít nhiều cho người đọc thưởng thức những vần thơ lục bát. Nhưng phải đến “Nguyễn Quang Hưng 68”, người đọc mới có cái nhìn tương đối về thơ lục bát của anh. Ngay nhan đề, anh đã bộc lộ sự tự tin, bản lĩnh, cách “chơi” lục bát. Xem mình là chủ thể, tâm điểm, chi phối đến những con chữ theo luật 6/8, anh lấy sự dùng dằng, vong thân của cái tôi “lại giống/tổ” để tái sinh bản thể và cảm nhận các chiều kích của cuộc sống, của thiên nhiên.

Nguyễn Quang Hưng dùng dằng đôi nẻo -0
 Nhà thơ Nguyễn Quang Hưng.

Trong thi tập, đề tài mà anh nói đến mang dư vị truyền thống lẫn hiện đại: người lính, chiến sỹ trên mặt trận chống dịch COVID-19, bóng đá, nghề truyền thống, mẹ, phố, quê, danh lam thắng cảnh, năm mới,… Kèm theo đó là hệ thống từ vựng vừa tiếp thu nền tảng cổ điển, vừa hiển lộ cách tân. Ở bài viết này, tôi chú ý đến cặp đối lập phố và quê. Chúng biểu thị sự va chạm giữa hai chiều kích cũ và mới, xưa và nay. Quá trình tách biệt, chuyển dời, cộng hưởng giữa hai không gian ấy chính là manh mối cho người đọc thấy sự tồn tại cái tôi “lại giống” của anh. Tâm thức “lại giống” giúp anh làm mới cảm xúc, độc đáo thi ảnh, bất thường về kết hợp từ, rộng mở hướng tiếp cận và đưa đến những giá trị mới.

Nguyễn Quang Hưng sinh ra và lớn lên ở thị xã Hà Đông. Quê nội anh ở phố cổ Hà Nội. Quê ngoại ở làng Tả Thanh Oai ven Hà Nội. Đến năm 2003, anh chính thức làm việc tại Hà Nội nhưng vẫn đi về giữa Hà Đông và Hà Nội. Xét về không gian, thực ra ranh giới giữa phố (Hà Nội) và quê (Hà Đông) không cách xa lắm, nhất là sau này, năm 2008, sáp nhập Hà Đông vào thành phố Hà Nội. Nhưng hoàn cảnh này đã ảnh hưởng nhiều đến cảm thức sáng tác của anh, đủ để anh thiết lập không gian của sự khác biệt và tương đồng, khi rút ngắn khoảng cách khi tách rời, riêng biệt, đủ để gọi tên những gì xa xăm, những gì đang dần trôi. Phố và quê của anh vì thế vừa chứa đựng hiệu ứng dùng dằng (chưa sáp nhập) vừa chứa đựng hiệu ứng vặn xoắn (đã sáp nhập), lan truyền đến người đọc những chiêm nghiệm, suy tư, mỹ cảm mới.

Phố của anh không phải là phố của hiện tại mà là “bóng phố”. Phố của kí ức, hoài niệm. Đó là phố của xứ Đoài, Hoàng thành, Hoa Lư Thăng Long, Hà thành, Hồ Gươm, sông Hồng,… Anh ngẫm về phố không phải từ nỗi khắc khoải trước quá trình đô thị hóa như nhiều cây bút khác, mà từ sự nhập cuộc, dấn thân, muốn là một nhân vị đóng góp vào hồn vía của phố: “Cho tôi làm sợi chỉ hồng/ Thêu vào ngũ sắc Thăng Long một lần” (Giấc mơ). Anh cảm được trong bóng phố hồn phố chứa đựng một bề dày lịch sử, những vỉa tầng văn hóa: “Tượng hình phố với khúc ca/ Lắng mầu Hà Nội mà ra giọng đào” (Hà Nội ca trù). Cách thức lồng ghép, đan cài giữa con người và phố đưa đến dạng thức mới, định tính mới cho khi quyển “Nguyễn Quang Hưng 68”. Phố của anh do đó là một tín hiệu thẩm mỹ đặc biệt. Sức sống của phố nằm ở bề sâu, biểu thị sự tích tụ mãnh liệt và trường tồn.

Quê của anh hiện về trong dáng mẹ bóng bà, khu vườn, cánh đồng, cỏ cây, núi non... Nếu phố được nhìn vào bên trong thì quê được nhìn từ máu thịt, từ những gì thân thuộc. Từ ngữ, hình ảnh thơ đặt trong mối quan hệ quen mà lạ, dung dị mà vững bền, làm nên cội rễ riêng của Nguyễn Quang Hưng: “Ốm đau sài đẹn phương nào/ Về quê hóa giải tanh tao đường trần” (Lá thuốc Mẹ). Cảm hứng quê mãnh liệt hơn khi trùng khít, chồng lên hình ảnh về người thân: “Lửa lên áo mới nhập nhòa/ Như trong bước cháu có bà còn đi…” (Như bà như cháu). Đặc biệt, anh lấy một nét dân dã (vệt bùn) đẩy vào hun hút cuộc đời (trăm nẻo, mai sau) chứng minh sự chưng cất tươi ròng của hồn quê:“Vòng quanh trăm nẻo con người/ Vệt bùn cất lấy trong lời mai sau” (Mạch xưa nghĩ cũ). Đi đâu về đâu, lời vọng của quê, của đất, của ruộng đồng vẫn là món quà tinh thần cao quý, nâng đỡ con người, giúp con người không bị mất đi giọng nói, nguồn gốc của mình. Cũng như phố, quê cũng là một tín hiệu thẩm mỹ của thơ anh. Đó là vết dấu nguồn cội để con người nhận ra chính mình trên hành trình miên viễn.

Nguyễn Quang Hưng còn kiếm tìm sự kết nối giữa phố và quê thông qua cái tôi “lại giống”, thông qua cái nhìn trầm tích. Anh quán chiếu nỗi thèm khát ấu thơ lên nỗi thèm khát cuống nhau, “nhỏ lại ngày thơ” mà “cải cách” chính mình và đời sống trong hiện tại. Đi thực ra cũng là hành trình trở về, nói như Trịnh Công Sơn, đó là “một cõi đi về”. Nên, khát khao trở về tuổi thơ bao giờ cũng khơi vẫy con người sau những mệt mỏi, trầm luân: “Nửa đời trong đục thiệt hơn/ Ngày sinh tôi ước được còn ấu thơ” (Nhỏ lại ngày sinh). Dù sống giữa lòng phố xá anh vẫn gửi nỗi niềm chênh chao về kí ức quê, nghe thì thầm ngân lên từ xa xăm quê: “Tôi nghe vào gió đồng không/ Tiếng người thơ ấu về trong cổng làng” (Vọng từ trang gió). Kết hợp ở mức độ rộng: phố - quê - sương - nắng, cái tôi bản thể càng được anh soi ngắm kĩ càng hơn: “Nửa đời lẫn phố lẫn quê/ Lẫn sương lẫn nắng còn nghe lẫn mình” (Tôi còn bán khoán). Hành trình chạm nhau giữa phố và quê do vậy là căn nguyên dẫn đến cái tôi “lại giống” của anh. Anh lấy gốc rễ, truyền thống làm phương thuốc cứu chuộc, giao thoa với những đổi mới, xô bồ hôm nay để nhận ra vẻ đẹp, hấp lực bền lâu của quê luôn có khả năng cảm hóa và thanh lọc tâm hồn: “Người đông ngõ phố đồng quê/ Nhìn trong thăm thẳm mà nghe mạch nguồn/ Lấy phù sa viết tên đường/ Nhuộm lên cho thắm phố phường hôm mai” (Vẽ phố).

Nguyễn Quang Hưng dùng dằng đôi nẻo -0
Tập thơ mới “Nguyễn Quang Hưng 68” của nhà thơ Nguyễn Quang Hưng.

48 bài thơ lục bát được Nguyễn Quang Hưng làm theo thể hoàn chỉnh 6/8. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi không đi sâu vào tìm hiểu vần, nhịp, nhạc tính nhưng qua việc anh làm mới nội dung, thi ảnh, từ ngữ, có thể khẳng định những nỗ lực, trăn trở của anh trên con đường canh tân. Đặc biệt, anh đổi mới lục bát, tăng thêm sức nặng cho lục bát bằng cách đẩy vào đó sức nặng của tính triết lý. Đằng sau những yếu tố lưu cửu của truyền thống là những lớp sóng nhận thức, chiêm nghiệm, giàu suy tưởng. Cái nhìn tinh khôi của cái tôi “lại giống” tiếp tục thiết lập cấu trúc mới: cuộc hôn phối của con người và thiên nhiên. Cấu trúc này khái quát các bài học về tình người, đối nhân xử thế, nạp thêm bầu khí quyển yêu thương, gắn kết và trân trọng lẫn nhau giữa các sinh mệnh cho “Nguyễn Quang Hưng 68”.

Từ cái nhìn bện quấn, anh lấy bản tính tự nhiên “Mùa đi lại đến không ngừng/ Bàn tay khe khẽ mở cùng nắng mai” (Năm mới) làm nơi chiết xuất những giá trị sống: “Ơn niềm khởi sự cỏ hoa/ Gieo vùng thanh sạch mở ra hiền từ” (Xuất hành phía cây). Những đòi đoạn của đường trần, những kiêu ngạo của cái tôi sẽ vơi bớt hơn thua, được mất khi quy chiếu qua vẻ đẹp nguyên sơ của tự nhiên: “Chạy quanh bản thể vô minh/ Về cây tôi gặp lại mình giản đơn” (Xuất hành phía cây); “Đói no sướng khổ trên đời/ Cùng chung ánh sáng về chơi trăng rằm” (Chơi rằm).

Như vậy, thiên nhiên không chỉ mang đến những bài học mà nó còn giúp con người biết quay về, nhìn lại, khám phá bản tính tự nhiên trong cái tôi bản thể. Thiên nhiên không kháng đối con người, ngược lại, nó còn góp phần gợi mở, phát triển cảm xúc, tình cảm của con người: “Nào hay hoa cỏ có tình/ Sắp tan còn để hữu linh cho người/…/ Để hoa tâm trí vang ngân/ Lòng người sẽ sáng muôn phần cỏ cây” (Từ biệt hoa). Chất triết lí đa phần được anh cài cắm trong bài học tinh khôi của thiên nhiên nên người đọc không hề có cảm giác cứng nhắc, khó hiểu. Sự mềm hóa này cũng là một cố gắng của anh đối với việc giữ gìn nguồn năng lượng chân phương, nhuần nhị mà rất tinh tế, sâu sắc của thể thơ lục bát.

Những thi liệu phố - quê, thiên thiên rất quen thuộc, không xa lạ gì trong thơ lục bát song đối với Nguyễn Quang Hưng, anh biết bắt nhịp gốc gác “nửa quê nửa phố” của mình, lựa chọn, lạ hóa chúng bằng cái tôi “lại giống”. Cho nên, cảm thức phố - quê, mối giao hòa giữa con người với thiên nhiên trong thi tập đã mở ra những tình cảm đẹp, vươn đến sự hài hòa, thể hiện một không gian thơ sống động, có chiều sâu. Dăm ba chỗ trong “Nguyễn Quang Hưng 68” vẫn còn những câu chữ cầu kì, lý tính, tuy nhiên có thể khẳng định, nội lực của điểm nhìn đa tuyến, của cái tôi “lại giống” đã trừu xuất ít nhiều cá tính, giọng điệu lục bát của riêng anh.

Hoàng Thụy Anh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).