Nguyễn Hiếu: "Trả nợ duyên thơ"

Gần nửa thế kỷ cầm bút, Nguyễn Hiếu có sở trường văn xuôi. Chả thế, "ông trùm" văn xuôi Ma Văn Kháng từng phong cho anh danh hiệu "Lực sĩ của văn xuôi Việt Nam".  Dù thành công ở văn xuôi và kịch, nhưng Nguyễn Hiếu vẫn nặng lòng với thơ.

Thơ là một phần quan trọng cùng hành trình sáng tác. Thơ là nơi anh ký thác tâm hồn; nơi anh gửi gắm nỗi niềm, cảm xúc. Thơ nâng cánh cho văn xuôi thăng hoa. Sau Tuyển thơ "Hư ảo" (2010), khi đã qua tuổi thất thập nhìn lại, Nguyễn Hiếu mới nhận thấy sự "bạc bẽo", "bỏ thơ", "dan díu văn xuôi" của mình và nay muốn "đền ơn" thơ bằng tập thơ "Làng mình".

Tập thơ "Làng mình" gồm 36 bài thơ. Lời tựa "Chế Lan Viên đã dạy tôi làm thơ như thế nào" mở đầu là bút tích nhà thơ Chế Lan Viên được anh lưu giữ từ năm 1972. Lời dặn dò, trao truyền kinh nghiệm làm thơ ấy đã đi theo anh "Người ta cứ nói làm thơ theo cảm hứng. Nhưng muốn cảm hứng trở thành một tác phẩm của bất kỳ thể loại nào trong văn chương cũng phải được dẫn dắt theo lý trí sáng suốt. Thơ cũng không ngoại lệ và khi làm thơ càng phải cần đến sự tỉnh táo của lý trí, nếu không chỉ là sự ghép vần, ghép chữ tùy tiện lọt tai, thuận mồm mà thôi. Thơ không có lý trí đi kèm thì không bao giờ là thơ hay được…Hy vọng anh đọc và hiểu những điều tôi nói nếu anh còn muốn làm thơ…".

image003.jpg -0
Nhà văn Nguyễn Hiếu.

Tập thơ "Làng mình" ăm ắp một tình yêu Hà Nội - mảnh đất ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ, tập trung tinh hoa dân tộc Việt. Là người Hà Nội gốc, anh trải lòng về Thủ đô thao thiết ăm ắp một tình yêu: "Đứng nghiêng bên cầu Thê Húc/ Mới hay thành phố đã sang hè…". (Mùa sấu); Sông Hồng thấm đậm trong thơ anh: "Nước sông Cái mát lòng vuốt xuôi nhọc nhằn…". "Sông Cái, sông Mẹ hiền hoà, mênh mông, bình thản ở giữa trôi…". "Sông Cái muôn đời không thể phôi pha mầu đất nâu và màu máu đỏ…". (Làng Chèm của tôi).

Làng Chèm luôn trở đi trở lại thao thiết: "Đi đến tận đẩu tận đâu rồi ta lại về làng như đứa trẻ mải chơi quên ăn giữa ồn ào, tranh giành, cãi cọ với dỗi hờn vẫn chợt nhớ về hơi mẹ". Làng đã dung dưỡng nguồn thơ. Ngôi làng ấy mang sứ mệnh thiêng liêng: "Làng Chèm của tôi tên rất Nôm/ Giống như làng cổ Đại Việt ta". (Làng Chèm của tôi). Thời gian chảy trôi mà người con của làng vẫn bền bỉ, nuôi giữ chồng lớp những kỷ niệm vẹn nguyên cảm xúc: "Làng Chèm của tôi mùa hè đi vớt củi rều…" . "Cá chép vật đẻ quẫy vỡ trăng thu". (Làng Chèm của tôi). Làng có ngôi nhà của mẹ ấm êm: "Căn nhà xưa của mẹ đứng bạc trơ/ Con bọ ngựa già nghiêng đầu ngơ ngác…/ Trăng khuyết rơm rớm lửa/ Tháng năm tan cùng heo may". Một làng quê Hà Nội ấm cây rơm: "Cây rơm rủ tóc dưới trời sương…". (Cây rơm dưới chiều). Một làng cổ thao thiết trong thơ anh. Sống xa làng, lúc nào nhà thơ cũng nhớ "Đường về Chèm xa, rặng ổi thơm". (Hà Nội một thuở). Câu ca "Giò Chèm, nem vẽ" vào thơ: "Bánh cuốn Thanh Trì, cà cuống nơi nao/ Giò Chèm, nem Vẽ, củi rều lưu lạc thiều biêu". (Vẫn là nỗi nhớ cổ xưa)…

Thơ Nguyễn Hiếu có muôn mặt cuộc sống với từng ngõ ngách, va đập của cuộc sống. Là nhà văn - nhà báo với thế mạnh văn xuôi, anh vẫn giữ thói quen tích lũy sự kiện, chi tiết. Nguyễn Hiếu điều tiết phát huy ngôn ngữ báo chí bám sát sự kiện, kết hợp văn chương. Chất tự sự của văn xuôi được anh đưa vào thơ. Nhiều bài thơ ngay từ nhan đề "nghe chẳng thơ đâu" ăm ắp sự kiện thời sự: "Nhật ký làng chống lụt", "Khúc ca người nông dân đi chợ đêm", "Nếu mai không còn tre…".

Nắm chắc quy luật tất yếu, trước những đổi thay của làng Chèm, Nguyễn Hiếu động lòng xa xót: "Tưởng như thế làng Chèm tôi mãi thế". Tâm hồn đa cảm trước những biến động, nhà thơ vẫn không muốn chấp nhận hiện thực hôm nay khi: "Bỗng người ở đâu đến nâng giá đất/ Làng gầm gào bình bịch". Nhà thơ hoang hoài: "Bây giờ làng tôi không có tiếng gà trưa…" Chạnh buồn: "Đường làng không còn gạch chôn nghiêng/ Lớp bê tông lỳ trơ như mặt thằng quỵt nợ/ Ngói vẩy xộp vỡ tan tành/ Nhà ống ngông nghểnh, lênh khênh…". Khu công nghiệp - dịch vụ mọc lên là lúc: "Ruộng làng vụ này đã hẹp lại". Bài toán đất: "Tiền đền bù dồn đủ thứ tiêu" và người làng tìm đường ra phố, làm Ô sin để: "Lấy tiền cho con học thêm" (Bây giờ làng tôi). Nhà thơ đồng cảm với: "Tiếng chẹp miệng trong đêm" (Bây giờ làng tôi). Bài thơ "Nếu mai rầy không còn tre" mang điệp khúc buồn: "Còn đâu la đà trước ngõ/ Trăng mồ côi giữa trời hoang…".

image001.jpg -0
Bìa tập thơ “Làng mình” của nhà văn Nguyễn Hiếu.

Có một Hà Nội thời kỳ công nghiệp hóa khiến người Hà Nội buồn: "Mang mang nặng trĩu mặt người/ Trầm buông, trầm buông chuông", mang nỗi luyến lưu. Nhà thơ mong Hà Nội "Có tiếng chim gù đâu đấy", "Có tiếng cánh nhài tách khẽ"… Những người sống nhiều đời ở Hà Nội đều cho rằng chất Hà Nội thường bình dị, thầm lặng và kín đáo. Họ đã sống ở đây nhiều đời và tự nó thu nạp dần, hình thành nên nền văn hóa Hà Nội, kể cả họ chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa phương Tây. Thủ đô Hà Nội chịu sự tác động của nhiều nền văn hóa khác nhau. Tuy rất cởi mở, linh hoạt, nhạy cảm với cái mới, nhưng người Hà Nội biết tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa cho phù hợp với phong cách sống vốn lịch lãm, phong nhã của mình. Vì thế, người Hà Nội luôn giữ được phong thái hào hoa, thanh lịch, nhân ái, khoan hoà, chuộng hình thức, rất bản lĩnh… Nguyễn Hiếu hiểu phẩm tính người Hà thành giàu không ai biết, khó không ai hay trong câu thơ: "Đói no không người tỏ" (Đàn bà làng tôi)…

Thơ anh thấm đẫm cảm xúc. Một Nguyễn Hiếu mềm yếu đến lạ: "Đến buổi em đi lấy chồng/ Miếng giò Chèm nhạt thếch/ Tôi sang ngang ngược chiều gió bấc/ Lẻ loi kéo xập mùa đông" (Điệp khúc mùa). Bài thơ "Em gái tôi lấy chồng xứ Huế" là bài thơ hay viết về phụ nữ, được nhà thơ Vũ Quần Phương tuyển chọn vào tập thơ "Mưa đền cây".

Tình yêu làng luôn lắng sâu, bền bỉ: "Dù hôm nay làng không còn tre gù lưng chờ như thủa ta gội nắng chang chang chân bỏng cát bên dòng sông hoang hoang cánh buồm nâu vá hai miếng trắng". (Bây giờ ta lại về làng)... Anh vẫn tin tình yêu phù sa: "Lặng lẽ bồi dưới đáy sông" sẽ là sức mạnh nội sinh để giữ làng trước những biến động xã hội để làm nên một làng Chèm vĩnh cửu.

Trong tập thơ "Làng mình", Nguyễn Hiếu sử dụng nhiều thể thơ. Anh nắm vững các thể thơ và sử dụng trong sáng tác thơ đạt hiệu quả: kết hợp một bài thơ nhiều thể loại thơ trong "Đàn bà làng tôi"; kết hợp thơ tự do xen thơ lục bát trong bài "Đàn ông làng tôi", "Khúc ru xuân"; kết hợp thơ văn xuôi với lục bát trong bài "Chóp Chài"; kết hợp thơ văn xuôi, tản văn với thơ trong "Sông Cái một dải nông sờ…". Trong bài thơ văn xuôi "Bây giờ ta lại về làng", Nguyễn Hiếu sáng tạo trong cách kết hợp thơ văn xuôi với tản văn và sau mỗi lần là câu kết đầy sức gợi về nỗi lòng của người con của làng yêu quê đến dứt ruột, dứt gan.

Nguyễn Hiếu bám chắc vào nguồn cội văn hóa dân gian để tạo cho mình một mỏ quặng ngôn từ thỏa sức sáng tạo. Anh vận dụng khéo léo ca dao, dân ca, tục ngữ để đưa vào thơ tạo nên nhiều hiệu ứng thẩm mỹ. Thêm nữa, Nguyễn Hiếu luôn có ý thức học hỏi, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong quá trình giao lưu, tiếp biến văn học thế giới, anh nhận thấy cái đẹp của thơ Haiku kết tinh nhiều giá trị văn hóa phương Đông, nhất là thể hiện nét tinh tế tâm hồn Nhật Bản. Nguyễn Hiếu khám phá thể thơ Haiku bằng "Chùm thơ giống như thơ Haiku": "Em chĩa ngực đợi thu/ Anh cong lưng chờ mùa Đông lặng/ Lá nghiêng tiếng chim gù…".

Nói như nhà văn Chu Lai: "Văn chương Nguyễn Hiếu không rao giảng, không làm duyên, không cố tình triết lý triết luận mà nó cứ tự nhiên trào lên như nước mạch với tất cả những bụi bặm, trong đục của nó và chính vì thế mà nó rất đời. Có nhiều đoạn Hiếu viết như nhập đồng, như lên cơn, như…kẻ điên".

 Nguyễn Hiếu là nhà văn đa tài "Nhiều trong Một". Dẫu văn xuôi, sân khấu là lĩnh vực Nguyễn Hiếu đam mê, khát khao cống hiến và đạt được nhiều thành tựu thì thơ vẫn luôn là điểm tựa trữ tình "cộng hưởng" để thăng hoa cho hai thể tự sự và kịch.

Lê Thị Bích Hồng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).