Nguyễn Công Trứ với hai bài ca trù về Hà Nội

Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) quê Hà Tĩnh, là một nhà chính trị, quân sự tài ba, một nhà thơ lớn của dân tộc thế kỷ XIX. Ông là tác giả tiên phong trong việc định hình lối Hát nói phổ biến bậc nhất hiện nay của Ca trù. Sinh thời ông sáng tác hai bài nổi tiếng về Hà Nội là “Thăng Long hoài cổ” và “Tràng An hoài cổ”. Hai bài thơ là góc nhìn của ông về Thăng Long, đồng thời, chứa đựng những sáng tạo trong sáng tác gắn liền với lối Hát nói.

Một Thăng Long hoài cổ

Vịnh thơ về một Hà Nội với cảnh đẹp Hồ Tây, với cốt cách con người nơi đây chắc khó có ai qua được Nguyễn Công Trứ! Mở đầu bài “Thăng Long hoài cổ” là hai câu mưỡu gợi cảnh êm đềm, con thuyền tĩnh lặng, lơi nhịp chèo trong sương, hòa cùng mây nước: “Dập dìu trăng mạn gió lèo/ Lỏng ngâm vân thuỷ lơi chèo yên ba”. Sau đó, tiếp tục cảm xúc: “Cảnh Tây Hồ khen ai khéo đặt/ Trong thị thành riêng một áng lâm tuyền”. Bốn câu thơ mở ra không gian Tây Hồ như tiên cảnh.

ảnh 2 - chân dung nguyễn công trứ - nguồn báo hà tĩnh.jpg -1
Phác họa chân dung nhà thơ Nguyễn Công Trứ.

Giá trị nhất của bài là những câu thơ tiếp theo: “Bóng kỳ đài giăng mặt nước như in/ Tàn thảo thụ lum xum toà cổ sát”. Theo NSƯT Nguyễn Văn Khuê - Chủ nhiệm Giáo phường Ca trù Thái Hà thì hai câu thơ này tuyệt hay, nó làm tăng giá trị của toàn bài. Theo ông Khuê, “kỳ đài” là đài dựng cột cờ, “thảo thụ” là cỏ cây, “cổ sát” là chùa cổ Trấn Quốc. Hai câu thơ đại ý tả cái cột cờ chiếu vào mặt nước nhìn thấy rõ cả cái bóng, chùa cổ cỏ cây bao quanh. Đó là một Tây Hồ đẹp và bình yên.

Trong bài, còn xuất hiện thêm hai câu thơ bằng chữ Hán: “Chiếc cô vụ, mảnh lạc hà bát ngát”. Từ “lạc hà” là ý của cổ nhân được Nguyễn Công Trứ khai thác, nội dung câu thơ có ý là ráng chiều bát ngát một cánh cò lẻ loi. Và câu tiếp theo: “Hỏi năm nao vũ quán điếu đài”. “Vũ quán điếu đài” là quán múa hát và đài câu cá năm xưa của chúa Trịnh xây trên Hồ Tây. Hai câu thơ này có lẽ mới thực sự gợi mở thông điệp chính tác giả gửi gắm. Trong cái cảnh đẹp mê hồn của Hồ Tây, tác giả bỗng thấy lẻ loi, co mình lại, hồi nhớ quá khứ xa xưa ở nơi đây thời vàng son của bậc vua chúa như chiếc gương hiện ra rõ nét nhưng rồi nay cũng ở nơi đâu?

Cũng vì thế mà khi: “Yên tiêu Nam quốc mỹ nhân tận/ Oán nhập đông phong phương thảo đa”. Theo cuốn "Việt Nam ca trù biên khảo" của Đỗ Bằng Đoàn, Đỗ Trọng Huề (Nhà in Văn Khoa, Sài Gòn, 1962) thì hai câu thơ có nghĩa là: Hương tàn người đẹp phương nam hết/ Buồn thấy gió đông thổi vào cỏ thơm nhiều. Hai câu thơ xuất hiện mới hợp đến lạ! Đây cũng là hai câu thơ được tác giả lấy từ bài thơ “Kinh Dượng Đế hành cung” của Lưu Thương đời Đường. Kết nối với hai câu thơ Hán phía trước, nó như bổ sung thêm về cảnh sắc, tâm trạng của tác giả. Đẹp nhưng man mác buồn, quá khứ đã qua, người xưa bậc quân vương, mỹ nữ đâu rồi, còn đây bối cảnh đấy nhưng chỉ có ngọn gió đông thổi vào những ngọn cỏ thơm.

Thực ra, trung tâm của bài “Tây Hồ hoài cổ” chính là 4 câu thơ mượn cảnh để giãi bày tâm trạng. Trong khi câu kết bài xuất hiện thành tố mới nhưng vẫn xuyên suốt nội dung bài: “Tây Hồ cảnh biết mấy mươi”. Tức là bây giờ cảnh Tây Hồ là vậy, và Nguyễn Công Trứ băn khoăn không biết mấy chục năm nữa sẽ thế nào? Nó chính là góc nhìn của nhà thơ về nhân tình thế thái, về vòng trời đất, cuộc đời và vận đổi sao rời. Có thế nào thì cũng vẫn phải theo quy luật ấy.

Hai bài hát nói có bố cục giống nhau, gồm 15 câu thơ chính, cộng thêm hai câu thơ phần mưỡu mở đầu. Nếu chỉ đánh số câu thơ chính, thì trong “Tây Hồ hoài cổ” câu thứ 5 thứ 6 xuất hiện cặp thơ chữ Hán và câu thứ 9, 10 hai câu thơ của cổ nhân. Thì ở “Tràng An hoài cổ”, thơ Đường xuất hiện ngay câu thứ nhất (không kể mưỡu mở đầu): “Hồi thủ khả liên ca vũ địa”, nghĩa là: Ngoảnh đầu nhìn lại lấy thương thay chốn ca múa cũ. Đây là câu thơ được Nguyễn Công Trứ lấy y nguyên trong bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ đời Đường. Câu tiếp theo trong bài thơ gốc của Đỗ Phủ là “Tần trung tự cổ đế vương châu”. Nguyễn Công Trứ vẫn có bóng dáng hồn cốt nhưng có thay đổi để phù hợp: “Đất Trường An là cổ đế kinh”.

Ta bắt gặp nhiều từ gợi cảnh sắc, nhưng giống “Tây Hồ hoài cổ”, “Tràng An hoài cổ” mượn cảnh diễn tả tâm trạng. Ở đây, cũng từ cảnh đẹp đất Tràng An, tác giả nhớ đến cuộc thăng trầm trong quá khứ, đến vùng đất cố đô bởi ở giai đoạn ông làm quan, kinh đô triều Nguyễn đặt tại Huế. Bài này cũng có 4 câu thơ chữ Hán nằm ở vị trí câu số 5, 6 và 9,10. Đây cũng chính là trung tâm của bài: “Người thôn ổ dấu phong lưu thành thị/ Đất kinh kỳ riêng một áng lâm tuyền” và “Hoa thảo kỷ kinh xuân đại tạ/ Giang Sơn trầm tiếu cổ hưng vương”.

Phá cách trong sáng tác

Không ngẫu nhiên trong cả 2 bài xuất hiện 2 cặp thơ chữ Hán, ở vị trí giống nhau. Đây là một trong những bố cục tác phẩm theo thể cách Hát nói mà chính Nguyễn Công Trứ góp phần sáng tạo, hoàn thiện. Bốn câu thơ thực chất là hai câu đối. Câu đối trong Hát nói được phép lấy thơ của cổ nhân, cũng có thể lấy ý hoặc tự sáng tác. Nguyễn Công Trứ vận dụng tất cả các cách này vào Hát nói.

nghệ nhân ưu tú thúy hòa - giáo phường ca trù thái hà.jpg -0
Nghệ nhân ưu tú Thúy Hòa (giữa), NSƯT Nguyễn Văn Khuê (đàn đáy), Cầm chầu Nguyễn An Khánh (Ảnh: Hoàng Chung)

Không chỉ góp phần hoàn thiện lối Hát nói chuẩn mực gồm 11 câu thơ chính, trong đó bắt buộc có một câu đối nằm vị trí câu số 5 và 6, Nguyễn Công Trứ còn phát triển thể hát Dôi nhịp. Như trường hợp bài “Tràng An hoài cổ” và “Tây Hồ hoài cổ” cả hai bài đều dôi 4 câu thơ, tức là được viết ở thể cách Dôi một khổ. Cùng với Dôi một khổ, hai bài thơ đều khai thác thêm câu đối thứ 2 nằm ở vị trí câu thứ 9 và 10.

Việc sử dụng thơ Đường nguyên vẹn hay khai thác ý thơ hoặc viết một số câu thơ bằng chữ Hán, nhất là khai thác thơ của cổ nhân vừa dễ vừa khó. Dễ là có thể khai thác y nguyên hai câu thơ bất kỳ. Khó ở chỗ làm sao để hai câu khai thác nói riêng, hai câu bằng chữ Hán nói chung “ứng” với những câu thơ trước và sau nó, để toát lên tinh thần chung của bài. Phải những người học rộng, hiểu sâu, am tường thơ ca mới đủ tầm để khai thác và sáng tạo.

Nguyễn Công Trứ còn khai thác thơ của cổ nhân vào các vị trí khác trong bài, chẳng hạn ở ngay câu thơ thứ nhất phần hát nói của bài “Tràng An hoài cổ”. Điều này thể hiện sự tự tin, am tường và tài ba của ông. Đó là một sáng tạo.

Đương nhiên, Nguyễn Công Trứ hiểu thơ Đường nên khi khai thác thơ cổ nhân vào trong tác phẩm của mình tạo một sự gắn kết tư tưởng giữa tác giả với cổ nhân, tạo điểm nhấn đòi hỏi người thưởng thức cũng phải có trình độ mới thẩm thấu được tư tưởng, mới biết được xuất xứ câu thơ, mới thấy được vẻ đẹp trong thơ của ông.

Sở dĩ khi tính số câu không đưa các câu mưỡu vào là bởi, trong Hát nói, có bài có mưỡu, có bài không. Có bài mưỡu ở đầu, lại có bài ở cuối. Để ca trù định hình phong cách Hát nói, các nghệ nhân Ca trù xưa đã quy ước cách tính như vậy để dễ nhìn ra bố cục của bài, từ đó thể hiện chúng đúng với ý đồ của tác giả. Người có vai trò quan trọng trong việc định hình Hát nói, bố cục cơ bản và các thể cách trong Hát nói chính là nhà thơ Nguyễn Công Trứ.

NSƯT Nguyễn Văn Khuê ngay từ nhỏ được tiếp xúc với những khách quý của cha ông (Cố nghệ nhân nhân dân Nguyễn Văn Mùi). Những khách quý ấy chính là ca nương, kép đàn hàng đầu thế kỷ XX. Ông Khuê chia sẻ, đối với những người hiểu và gắn với Ca trù ở Hà Nội như ông và thế hệ các cụ tiền bối, đều coi Nguyễn Công Trứ là người sáng tạo và hoàn hiện lối Hát nói. Bởi vì trước ông Hát nói chưa xuất hiện. Trong khi cùng thời kỳ, cũng xuất hiện một hai cái tên, nhưng so với số lượng tác phẩm và đóng góp thì Nguyễn Công Trứ vẫn chiếm ưu thế hơn cả.

Theo thống kê của NSƯT Nguyễn Văn Khuê, “số lượng tác phẩm Hát nói của cụ Nguyễn Công Trứ có thể lên tới 100 bài”. Phần đa trong số đó còn hiện hữu ở dạng văn bản, tuy nhiên số bài vang lên bằng âm nhạc thì chỉ đếm trên đầu ngón tay. Riêng hai bài Hát nói trác tuyệt về Hà Nội thì “Tràng An hoài cổ” vẫn hiện hữu qua phần băng thu âm của cố NSND Quách Thị Hồ, trong khi “Tây Hồ hoài cổ” thì được chính ông Khuê cùng Giáo phường Ca trù Thái Hà hồi sinh từ những năm thập niên đầu thế kỷ XXI qua giọng ca của ca nương Kiều Anh.

Tới đây, cùng sự đồng hành của người viết, cả hai bài thơ về Hà Nội của nhà thơ Nguyễn Công Trứ sẽ được NSƯT Nguyễn Văn Khuê và giáo phường của mình tái hiện thêm lần nữa. Đây là món quà nhóm nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, nghệ nhân tri ân cụ Nguyễn Công Trứ, tri ân nghệ thuật Ca trù độc đáo của dân tộc và dành tặng cho Hà Nội.

Nguyễn Quang Long

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).