Nguồn gốc múa – hát xoan vùng Đất Tổ

Hát Xoan tức hát Xuân, là một dạng vừa hát vừa múa theo nhịp trống - phách, xưa thường được biểu diễn ở các đền, đình vào mùa xuân ở vùng Đất Tổ Phú Thọ, cũng là quê hương của loại hình di sản văn hóa Việt Nam và thế giới này. Một quan điểm phổ biến cho rằng hát Xoan chính thức ra đời thời Hậu Lê (thế kỷ 15) bởi ca từ của hát Xoan rất giống với ngôn ngữ văn chương thời này.

Quan điểm trên chỉ dựa vào ca từ hát Xoan, và vì thế chỉ có thể đúng với riêng lời hát Xoan.

múa mó cá.jpg -0
Múa - hát Xoan “Mó Cá” ở Phú Thọ.

Từ con mắt dân tộc học, hát Xoan phải có sau múa Xoan và khởi nguồn của múa Xoan là một dạng múa thiêng, tức một dạng múa nghi lễ mang tính ma thuật mô phỏng Cò Trắng - một hiện thân của Mẹ Chim Âu Cơ - Mẹ Lúa trong lễ Giỗ Tổ thời vua Hùng. Chúng ta đều biết, người Lạc Việt thời các vua Hùng có tục thờ Bà Tổ Chim, điều thể hiện rất rõ trên hoa văn trống đồng Đông Sơn, đặc biệt các trống sớm và đẹp nhất như Ngọc Lũ, Hoàng Hạ.

Biểu tượng cho Bà Tổ Chim đó là hình đàn cò trắng (thường được gọi là chim Lạc) bay quanh mặt trời. Đó là loài chim di cư gắn với sự chuyển động của mặt trời, gắn với mùa mưa, mùa trồng lúa. Cò trắng, với người Lạc Việt xưa cũng như với nhiều tộc người Bách Việt trồng lúa nước xưa, là biểu tượng của mùa xuân, mùa lúa mới, của sự tốt lành, may mắn. Đó cũng chính là loài chim đã hóa thành Mẹ Âu Cơ của các vua Hùng trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, tức Họ Chim Rồng.

Hùng là từ chỉ vua - thủ lĩnh - có gốc Khun/Kun là từ chỉ vua - thủ lĩnh trong tiếng Bách Việt thời xa xưa. Nhưng chữ Hùng chỉ Vua Hùng có tượng hình chim và có nghĩa là chim trống, phù hợp với truyền thuyết kể vị vua Hùng đầu tiên là con trai trưởng của Mẹ Chim Âu Cơ. Phú Thọ, vùng Đất Tổ vua Hùng, kinh đô nước Văn Lang xưa, có địa danh Bạch Hạc (Hạc Trắng) gắn với sự tích chim hạc trắng bay đến đậu trên cây chiên đàn. Rất có thể, tên gọi Bạch Hạc đó có liên hệ cội nguồn với Bà Tổ Chim - Cò Trắng đó. Chúng ta biết hạc là loài chim gần gũi với cò cả về mặt ngôn ngữ và sinh vật học. Cò trắng, đó cũng là loài chim đã bao đời gắn bó với ruộng đồng nước Việt, trở thành biểu tượng cho người mẹ, người nông dân trong ca dao, tục ngữ, dân ca Việt.

Lễ Giỗ Tổ vua Hùng nay có gốc từ các nghi lễ thờ cúng tổ tiên của các vua Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh xưa, về bản chất cũng là các nghi lễ có mục đích cầu mưa - cầu mùa, cầu sự sinh sôi nảy nở cho vạn vật. Cụ thể, đó là các nghi lễ thờ cúng Bà Tổ Cò Trắng (Âu Cơ) - Ông Tổ Rồng (Lạc Long), trong đó Bà Tổ Cò Trắng cũng là Nữ thần Mặt Trời - Bà Trời - Mẹ Lúa; Ông Tổ Rồng cũng là Thần Nước - Thần Mưa - Thần Đất.

Các nghi lễ đó thường được tổ chức vào tháng 3, dịp cuối mùa xuân - đầu mùa mưa, lại là thời buổi nông nhàn và kỳ giáp hạt, là thời điểm thích hợp nhất cho các nghi lễ cầu mưa thuận nắng hòa, cầu người yên vật thịnh. Trong các nghi lễ cầu mưa - cầu mùa hay đám ma của người Bách Việt cùng thờ Bà Tổ Chim xưa, một nghi lễ không thể thiếu là điệu múa chim - bản chất là một ma thuật mô phỏng hình dáng, động tác của Bà Tổ Chim, với mục đích để làm vui lòng Bà Tổ Chim, từ đó hy vọng được Bà Tổ Chim che chở, phù hộ.

Tương tự, trong lễ Giỗ Tổ thời các vua Hùng, gái trai Lạc Việt cũng tiến hành múa Cò Trắng, họ hóa thân thành cò trắng với chiếc mũ hình đầu cò cách điệu. Dạng mũ ấy có thế thấy trên một hình người -chim trên trống Ngọc Lũ.

Các truyền thuyết về người Bách Việt xưa cũng nói về những người mang tên “Đầu Cò”, tức những người trong nghi lễ đội mũ hình đầu cò, mặc áo có gắn cánh cò. Người Nhật là một tộc người cũng có nguồn gốc Bách Việt. Một truyền thuyết Nhật kể, hoàng tộc Nhật là con cháu của Bà Tổ - Nữ Thần Mặt Trời, gợi tới Bà Tổ Âu Cơ của các vua Hùng. Đặc biệt, họ còn bảo tồn được điệu múa Cò Trắng, được sử sách ghi nhận là điệu múa cung đình thời Heian (thế kỷ 8-12). Sau một thời gian dài mai một, điệu múa này đã được hồi sinh vào năm 1968 và từ đó được biểu diễn tại sân đền Sensoji, Tokyo vào hai ngày chủ nhật và thứ hai của tháng 4. Đó là thời gian tương ứng với tháng 3 Âm lịch ở Việt Nam, tháng của Giỗ Tổ ở Đền Hùng.

capture.jpg -0
Hình người - chim cò trên mặt trống Ngọc Lũ.

Trong tâm thức người Nhật xưa, cò trắng là một loài chim đặc biệt bởi nó có thể kết nối được ba thế giới trời - đất và nước. Với màu trắng thanh cao và dáng điệu duyên dáng, với nhịp sống bay đi bay về gắn với mùa mưa - mùa lúa, cò trắng trở thành biểu tượng của vẻ đẹp cao quí, của nước mưa trong và nắng ấm lành và của những điều may mắn. Trong điệu múa đó, các cô gái chàng trai hóa trang thành cò trắng và múa các động tác mô phỏng dáng điệu của cò trắng theo nhịp trống.

Từ biểu tượng cò trắng trong văn hóa Đông Sơn, có thể thấy vào thời các vua Hùng, trong lễ cúng tổ tiên vào tháng 3, người Lạc Việt đã có điệu múa Cò Trắng và con cháu của điệu múa đó chính là múa - hát Xoan ngày nay. Trang phục cổ truyền của trai gái trong điệu múa - hát Xoan hé lộ cho ta thấy cái cốt lõi đó. Trước hết là chiếc khăn “mỏ quạ” của các cô gái.

Nữ phục truyền thống Bắc bộ xưa, đặc biệt ở vùng quan họ Bắc Ninh, có chiếc khăn mỏ quạ gắn liền với chiếc nón quai thao với nan nón tỏa ra như tia mặt trời bên ngoài và hình mặt trời thêu bên trong; với chiếc áo tứ thân tha thướt, mềm mại như cánh chim. Tất cả mang thần thái bộ trang phục của những người - chim mặt trời - cò trắng hay “người đầu cò” thời các vua Hùng. Trong đó, chiếc “khăn mỏ quạ” đặc trưng thường đội trong các dịp lễ hội của phụ nữ Việt chính là dấu tích của chiếc mũ đầu chim - đầu cò đó.

Tên gọi “khăn mỏ quạ” có lẽ bắt nguồn từ màu đen của tấm khăn, màu đặc trưng của quạ. Trong tâm thức nhiều dân tộc châu Á, quạ như cò trắng cũng là một biểu tượng của mặt trời, sứ giả của thần linh. Mặt khác, màu đen cũng là một màu sắc được các cư dân trồng lúa xưa thường dùng, trang phục nhuộm chàm được ưa chuộng bởi nó thích hợp nhất với đời sống gắn với đồng ruộng đầy bùn đất của họ.

Tiếp đó, bộ quần áo trắng của các chàng trai Việt múa - hát Xoan cũng là một dấu tích của bộ trang phục trong điệu múa Cò Trắng thời các vua Hùng xưa. Màu đỏ của khăn đầu và thắt lưng của họ là biểu tượng của mặt trời và sự sống gắn với biểu tượng cò trắng.

Các động tác múa, lời hát Xoan hôm nay, sau hàng ngàn năm đã có nhiều biến đổi, nhưng chúng ta cũng có thể thấy hình tròn của đội hình múa, đặc biệt của các cô gái, nhắc tới hình đàn cò trắng bay quanh mặt trời trên mặt trống đồng. Một số động tác múa lại gợi tới hình tượng cò dang cánh, tung cánh và đặc biệt, các động tác uốn tay mềm dẻo, đưa thân và chân nhịp nhàng cũng gợi đến các dáng điệu của cò.

Trong các điệu múa - hát Xoan, chắc chắn, điệu vui vẻ tưng bừng nhất là điệu Mó (mò) cá. Ở điệu này, các chàng trai tượng trưng cho cá, các cô gái tượng trưng cho cò, họ mò nhau, bắt nhau trong đêm cho đến khi cò bắt được cá to dâng vua. Các động tác vung tay, vẫy tay cùng các lời ca gợi đến cảnh đàn cò bay lên bay xuống đi bắt tôm mò cá trên đồng lúa.

Giờ đây, chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn vì sao các truyền thuyết về nguồn gốc hát Xoan thường gắn với vợ hay con gái của vị vua Hùng đầu tiên; vì sao hát Xoan lại có ba dạng chính là hát thờ cúng các vua Hùng và thần bảo hộ làng (Thành hoàng), hát nghi lễ cầu mùa, cầu an và hát giao duyên trai gái; và vì sao múa - hát Xoan thấm đậm tín ngưỡng phồn thực của người Việt xưa…

Nhà dân tộc học Tạ Đức

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).