Người viết những ca khúc hay nhất về Đảng

Đó là cố nhạc sỹ Đỗ Minh (1926-2008) tác giả ca khúc ai cũng biết và nhiều người đã thuộc nằm lòng từ lâu – bài “Chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Bài hát quá nổi tiếng, là Đảng ca, đã như thâu tóm được hết tình cảm của nhiều người dân Việt Nam dành cho Đảng – tổ chức thiêng liêng đã đưa dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong công cuộc giải phóng dân tộc, đấu tranh thống nhất và xây dựng, phát triển đất nước hôm nay. Giai điệu trầm hùng, tha thiết, vừa đĩnh đạc, trang nghiêm, lại vừa giản dị, gần gũi với tất cả mọi người khiến ai nghe cũng rất dễ nhập tâm.

Bài hát được viết ở thể 1 đoạn với bố cục gọn ghẽ, khúc chiết cùng lời ca giàu hình tượng văn học: “Vừng trời đông, ánh hồng tươi sáng bừng lên. Đàn bồ câu trắng bay về trong nắng mới. Ngàn triệu dân xiết tay nhau súng búa liềm trên đường tranh đấu. Khối kết đoàn công nông bền vững…”. Đây là một trong những bài hát quen thuộc, gần gũi nhất đối với mọi người Việt Nam. Nhưng tác giả thì ngay cả những người hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc ở thế hệ sau này cũng không mấy ai biết.

Cố nhạc sỹ Đỗ Minh.
Cố nhạc sỹ Đỗ Minh.

Ông có tên khai sinh là Đỗ Minh Ý, sinh ngày 16/12/1926 tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trong một gia đình Công giáo toàn tòng. Yêu thích và có năng khiếu âm nhạc từ nhỏ, Đỗ Minh học nhiều nhạc cụ, đặc biệt là kèn clarinette và nhanh chóng được thổi kèn này trong dàn Thánh ca của nhà thờ.

Chàng thanh niên lớn lên, chứng kiến cuộc sống lam lũ, khổ cực, bị áp bức bóc lột của người dân vùng quê mình nên sớm giác ngộ cách mạng. Trong cao trào cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa của ta vào đầu năm 1945, chưa đến 19 tuổi, Đỗ Minh tham gia hoạt động trong Hội Thanh niên Cứu quốc, rồi xung vào đội du kích vũ trang, làm liên lạc, đưa thư cho các tổ chức cách mạng từ Nam Định đến Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nội.

Sau đó, được bổ sung vào đơn vị bộ đội địa phương, làm công tác tuyên truyền văn nghệ. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Đỗ Minh chuyển sang bộ đội chủ lực, đóng quân ở Thái Nguyên.

Ngày 3/3/1951, Đại hội lần thứ 2 của Đảng ta diễn ra, đổi tên từ Đảng Cộng sản thành Đảng Lao động. Lúc này, Đỗ Minh đang cùng đơn vị của mình đóng ở huyện Đại Từ (Thái Nguyên), đã viết nên bài ca bất hủ, mang tên “Chào mừng Đảng Lao  động Việt Nam”.

Viết xong, ông hát cho anh em bộ đội trong đơn vị nghe. Ai cũng khen hay và yêu cầu tác giả dạy cho họ hát. Có một chuyện thú vị: Sau khi hát cho đồng đội nghe, rất cầu thị, Đỗ Minh đề nghị mọi người góp ý để sửa lại cho hoàn chỉnh. Đồng đội yêu cầu tác giả hát đi hát lại nhiều lần nên mọi người thuộc rất nhanh.

Nhưng có một người góp là cần thay chữ “đứng” bằng chữ “xúm” trong câu: “Ngàn triệu dân sát vai nhau đứng quanh Đảng Lao động Việt Nam”. Đỗ Minh lắng nghe, không phản đối. Ông hỏi ý mọi người về sự thay đổi này. Có vẻ như dùng từ nào cũng được nên mọi người im lặng một lát, rồi có một chiến sỹ cất lời:

- Không ổn. “Xúm quanh” không ổn mà phải “đứng quanh” như tác giả đã viết vì theo tôi, “xúm” có vẻ túm tụm lại một cách vô ý thức. Đây là ngàn triệu dân, cả dân tộc ta có ý thức về việc đi theo Đảng, được Đảng lãnh đạo, đưa đường chỉ lối. Vậy nên phải là “đứng” chứ không thể “xúm”.

Mọi người vỗ tay, đồng ý, tán thưởng với ý kiến của chiến sỹ vừa rồi. Đỗ Minh lúc này mới nói: “Cảm ơn anh em đã đồng cảm với tôi”. Về cái tên bài hát, lúc đầu ông đặt là “Ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam”. Sau đó, một đồng chí chỉ huy cấp trên góp ý: “Cậu nên sửa lại là “Chào mừng Đảng Lao động Việt Nam” vì để gắn với sự kiện lịch sử Đảng đổi tên, lại không cần nói là “ca ngợi” bởi nghe toàn bài, ai cũng thấy rõ là tác giả ca ngợi rồi…”. Đồng chí thủ trưởng chính trị thì nói: “Vả lại, Đảng cũng không cần ai phải ca ngợi mình, bởi hữu xạ sẽ tự nhiên hương”. Nghe lời vị chỉ huy góp ý, Đỗ Minh đã sửa lại là “Chào mừng…”.

Sau đó chỉ một thời gian ngắn, bài hát đã lan truyền rộng rãi trong nhiều đơn vị bộ đội rồi lan ra dân công và nhân dân khắp các vùng kháng chiến. Trước hiệu quả rất đặc biệt này, cấp trên chỉ thị cần in ấn, phổ biến rộng rãi và hát trong các hội nghị, các cuộc sinh hoạt văn nghệ. Thế là rất tự nhiên, sáng tác này đã trở thành bài hát chính thức của Đảng ta, tức “Đảng ca”.

Đến Đại hội lần thứ 4 sau ngày đất nước thống nhất (1976), Đảng ta đổi trở lại tên cũ là Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhạc sỹ Đỗ Minh cũng sửa lại lời ca như hiện nay chúng ta vẫn hát. Đến những ngày cuối đời, mỗi khi nhớ lại sự việc sáng tác bài hát này, ông vẫn nói: “Năm 1951, tôi 25 tuổi, chưa là đảng viên, không ai yêu cầu hoặc gợi ý gì, từ lòng yêu và biết ơn Đảng mà tôi viết nên bài hát. Tôi sáng tác cho chính mình, để nói với bản thân mình”.

Và đến năm 1967, Đỗ Minh mới trở thành đảng viên. Để đánh dấu sự kiện đáng nhớ này trong đời, ông sáng tác bài “Dưới cờ Đảng ta vững bước”. Tuy nhiên, Đỗ Minh cũng tự công nhận là ở bài sau, ông vận dụng lý trí nhiều hơn nên hiệu quả tác phẩm đã không được như bài trước. Nhưng khi không sử dụng hình thức chính ca mà tìm đến ca khúc trữ tình và viết cho đơn ca thì ông lại rất thành ông.

Đó là trường hợp bài “Đảng – người mẹ quang vinh”, ông biểu hiện tâm sự, tình cảm của bà con các dân tộc ít người dành cho Đảng: “Rừng núi biển xanh bao la đồng lúa lặng nghe tiếng lòng ta gợn xao xuyến. Đời gian khó Đảng dắt dìu không mỏi. Bản Mường xa in dấu chân Người, vạch tương lai dẫn đường chỉ lối…”. Trong thập niên 60 của thế kỷ trước, bài hát này rất phổ biến trên các sân khấu hội diễn ca múa nhạc ở cả hai khu vực chuyên và không chuyên nghiệp trên miền Bắc.

Cũng như nhiều nhạc sỹ khác, sau hòa bình lập lại (năm 1954), Đỗ Minh theo học âm nhạc chuyên nghiệp rồi ra công tác ở các đoàn văn công, đơn vị nghệ thuật. Trước khi nghỉ hưu, ông công tác ở Đoàn Văn công và giảng dạy ở Trường Nghệ thuật Việt Bắc đóng tại Thái Nguyên.

Ngoài hai ca khúc nổi tiếng nói trên, ông còn có một số bài khác: “Buổi sáng lên nương”, “Những bàn chân không mỏi”, “Chiều biên giới”… Ông cũng sáng tác nhạc múa, kịch. Một đóng góp rất đáng kể khác nữa của Đỗ Minh là ở lĩnh vực nghiên cứu, sưu tầm dân ca các dân tộc ít người vùng núi Việt Bắc. Với những đóng góp rất đáng kể, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.

Bài hát “Chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam” của cố nhạc sĩ Đỗ Minh.
Bài hát “Chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam” của cố nhạc sĩ Đỗ Minh.

Đỗ Minh có dáng dấp và tính cách gần với nhà quản lý, cán bộ lãnh đạo hơn là một nghệ sỹ. Nhiều người vẫn nói trêu ông là vì sáng tác nhiều và quá hay về Đảng nên mới trở nên con người mực thước, nghiêm túc. Ông luôn kiệm lời và không thích nói nhiều về mình. Lúc ông còn sống, mỗi lần có dịp lên đất trà nổi tiếng là tôi lại tìm đến thăm ông ở phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên.

Con người ông mới nhìn thì thấy mô phạm nhưng tiếp xúc lâu, nhất là khi đã quen thân thì cởi mở, chân tình và giàu cảm xúc. Ông có vẻ như không mấy mặn mà với việc được báo chí để ý. Một lần tôi đang chơi nhà ông thì có phóng viên một tờ báo ở Trung ương nhân chuyến công tác tại Thái Nguyên đến gặp ông để thực hiện một bài phỏng vấn xung quanh việc ra đời bài “Đảng ca”. Ông tiếp đón lịch sự, pha trà Tân Cương thơm phức đãi khách, nhưng chỉ nói:

- Bài hát chẳng có gì đáng nói. Tôi viết năm 1951 nhân sự kiện Đại hội Đảng. Viết theo sự thôi thúc tự nhiên của trái tim, cho chính bản thân mình. Thế thôi.

Cảm thấy có vẻ như nhà báo có chút mất hứng do không khai thác được gì nhiều, nhạc sỹ nói tiếp:

- Vì nhà báo hỏi nên tôi trả lời vậy, chứ không có gì để viết đâu.

Người phóng viên quay sang hỏi thân thế, sự nghiệp, quá trình hoạt động và sáng tác của Đỗ Minh. Ông lại nói:

- Cũng chẳng có gì đặc biệt. Như mọi cán bộ khác thôi. Khác chăng là tôi có thêm hoạt động sáng tác. Nhưng cũng không đáng kể gì, thua xa các nhạc sỹ khác vì họ có tới dăm ba trăm tác phẩm. Tôi chỉ có dăm ba bài, không thể so.

Chứng kiến cuộc tiếp xúc của Đỗ Minh với nhà báo, tôi mới hiểu vì sao hầu như ông không xuất hiện trên báo chí bao giờ, kể cả ở báo Thái Nguyên là nơi rất gần gũi với ông, phóng viên có thể gặp ông bất cứ lúc nào.

“Chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam” của Đỗ Minh là bài hát ra đời sớm nhất viết về Đảng, cho đến nay vẫn chưa có bài nào vượt được qua dù đã có tới hàng trăm bài có giá trị khác viết về cùng một đề tài. Bài hát cùng một lúc đạt được giá trị cao ở cả ba ý nghĩa: Lịch sử, tư tưởng và nghệ thuật.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Dưới chân núi Khau Rịa cao sừng sững, ngôi đền Nghĩa Đô cổ kính tọa lạc vững chãi và uy nghiêm, xa xa là dòng Nặm Luông hiền hòa chảy uốn quanh những bản làng. Từ bao đời nay, đồng bào Tày Nghĩa Đô từ bao thế hệ vẫn lưu giữ và kể cho nhau nghe câu chuyện về quá trình hình thành, bảo tồn ngôi đền thiêng của bản làng, gắn với tín ngưỡng thờ Chúa Bầu vùng Tây Bắc.

Ấn tượng Nhật Tuấn

Ấn tượng Nhật Tuấn

Nhật Tuấn người Hà Nội gốc, nhưng tính cách khá mạnh mẽ. Không bia rượu, bài bạc, thuốc lá, cả cuộc đời Tuấn gọn trong ba thứ: Văn chương, bạn bè và… người đẹp. Anh thú nhận, mình là kẻ lăng nhăng, yêu đương dắt dây. Không che đậy, giả tạo. Văn chương là con người anh.

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Theo nghĩa từ điển, “hẳn hoi” là một tính từ (khẩu ngữ) được dùng với nghĩa “có được đầy đủ các yêu cầu, theo đúng tiêu chuẩn như thường đòi hỏi”. Có thể hiểu thêm, đó là sự “tươm tất, đàng hoàng”; là sự “đúng đắn, tử tế”; là sự “cẩn thận”; là sự “trước sau như một”, “đến nơi đến chốn”; là một “sự thật”…

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Với lịch sử hơn 300 năm hình thành, Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh có những câu chuyện mãi đến ngày hôm nay vẫn còn vọng vang trong tâm khảm thị dân đất này. Trong không gian náo nhiệt sầm uất của thành phố không ngủ lại tồn tại những điều đời thường một cách bình dị.

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa dân tộc

Khi một dân tộc đã nhận biết được về nền văn hóa của mình và cho mình thì có thể nói rằng dân tộc đó đã bước vào thời kỳ chín muồi, về ý thức dân tộc. Và, từ đó, văn hóa chính là chất keo kết dính mọi thành viên trong xã hội, trong một cộng đồng dân tộc trên một địa bàn nhất định. Văn hóa đã biến thành lực lượng vật chất to lớn bảo vệ chủ quyền quốc gia: văn hóa nâng cao địa vị của mỗi người công dân trong cộng đồng dân tộc.

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Tôi đã rất tò mò khi được các đồng nghiệp tại Thái Nguyên giới thiệu về một ngôi làng với bản sắc dân tộc Tày, được duy trì theo phương thức “tự cung, tự cấp, tự sản, tự tiêu”. Ở đó, cả một cộng đồng hàng chục gia đình “ăn cơm chung nồi, tiêu tiền chung túi” song vẫn sống đoàn kết, hạnh phúc và mãn nguyện với những gì đang có.

Giấc mơ màu lính

Giấc mơ màu lính

Ngoại đã đi thật xa. Lâu rồi. Có thể về chốn cố quận mịt mùng trong con nước Phú Ninh mênh mênh. Cũng có thể về miền mây trắng nào đó bung biêng trên bầu trời. Hoặc cũng có thể về miền xanh thẳm xa xôi, nơi đó ngoại đứng tiễn đoàn quân trùng trùng ra trận, trong đó có những đứa con của mình. Tôi hay mơ về ngoại, những giấc mơ dài.

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Hoa Viên xưa, nay thuộc xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là một làng cổ nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh, nơi hội tụ nhiều giá trị lịch sử - văn hóa đặc sắc của vùng đất phía Bắc Hà Tĩnh. Đây không chỉ là địa bàn cư trú sớm của cư dân Việt cổ với di chỉ khảo cổ nổi tiếng Phôi Phối - Bãi Cọi, mà còn là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lưu giữ hệ thống đình, chùa, miếu mạo cùng nhiều địa danh gắn với các cuộc chiến tranh thời Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn như Trạng Đội, Cồn Sâu Bắn, Trạng Vạn.

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cái roi trong các không gian văn hoá

Cách nay trên dưới nửa thế kỷ, ở nhà quê, mỗi đứa trẻ trâu thường quen thuộc với hai cái roi. Đứa nào cũng có cái roi - để “điều khiển” trâu. Rất linh tinh, đơn giản, chỉ là một thanh nứa, thanh tre, hoặc cành cây nhỏ. Đứa nào cầu kỳ, “thửa” bằng đoạn mây vàng óng…

Xuôi dòng sông Gâm

Xuôi dòng sông Gâm

Dòng sông Gâm từ xứ sở Lâm Bình xuôi về vùng đất Na Hang (Tuyên Quang) sở hữu hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trên mặt hồ, những khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật vô cùng phong phú và làn nước trong xanh tựa ngọc. Với khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, đất trời, non nước giao hòa, nơi đây, từ lâu được xem như “Vịnh Hạ Long” trên núi, “Nàng tiên xanh” giữa đại ngàn Đông Bắc.

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour du lịch quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.