Đọc tiểu thuyết “Chuyến xe đi giữa sương mù” của Nguyễn Hải Yến - NXB Phụ nữ Việt Nam - 2023

Người mở rộng cõi trần gian

Tôi quen biết Nguyễn Hải Yến từ năm 2018 trong một trại viết của Tạp chí Văn nghệ Quân đội và rất ấn tượng với một truyện ngắn đậm chất hư cấu của Yến. Khi ấy, khác với quan điểm của một số người, tôi cho rằng dám hư cấu những cái chưa từng xảy ra nhưng vẫn làm người đọc công nhận, đó mới là tầm vóc sự sáng tạo và tư duy của nhà văn đích thực.

Quả nhiên truyện ngắn đó được giải cao trong một cuộc thi khác cùng với “Hoa gạo đáy hồ” ảo thực hai bờ kể về sự kết nối âm dương. Và cũng từ đấy, Nguyễn Hải Yến được mệnh danh là “người đàn bà kể chuyện ma vùng đồng bằng Bắc Bộ”.

Lần này, đọc tiểu thuyết “Chuyến xe đi giữa sương mù” của Nguyễn Hải Yến tôi nhận ra cuốn sách là sự tiếp nối tư duy sáng tạo của “người đàn bà kể chuyện ma”. Chuyện kể về cuộc sống của những người đã chết trên chốn trần gian tiếp tục sống dưới địa phủ để trả nghiệp và đợi đến lúc luân hồi. Đó là một cộng đồng sống thuận hòa, không hận thù, làm việc chăm chỉ nhưng vẫn gặp đầy rẫy sự oái oăm đến cười ra nước mắt mà nguyên nhân của nó lại từ trần gian đưa xuống. Đỉnh điểm là việc những người dân dưới địa phủ xót xa xử lý hậu quả đại dịch COVID -19 và hai cuộc tự điều tra để giải oan cho mình, tố cáo những kẻ đội lốt thầy tu ở chùa “Tam Hoàng” làm tiền thỉnh vong “oan gia trái chủ”.

81266275-76dc-4ccb-ae34-3279d949524b.jpg -0
Nhà văn Nguyễn Hải Yến.

Viết về địa phủ, Nguyễn Hải Yến không sử dụng không gian đã định sẵn được ghi trong kinh sách, truyền thuyết mà khám phá một lối đi riêng, là xây dựng ra một cõi âm “Nam Bình Phủ” có nhiều điểm rất khác.

Đó là một nhà nước, một phủ riêng với 5 trấn nhỏ gọi theo ngũ hành Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ. Đó là cõi thật, có không gian thật, cách mặt đất chúng ta đang sống chỉ “hơn mười ngàn mét”. Nơi ấy không có mặt trời nhưng được chiếu sáng bằng năng lượng, tùy theo sự tu tập của mỗi người và bằng động cơ điện như thủy điện... Âm phủ có thời gian đồng nhất với thời gian trên trần thế. Cũng có ngày và đêm, có Vọng Dương Đài để nhìn về trần gian tựa như ta có kính thiên văn để nhìn lên vũ trụ.

Người âm phủ sẽ không chết một lần nào nữa, nhưng cuộc sống mỗi người dưới âm phủ hữu hạn, họ sẽ luân hồi khi trả nghiệp xong. Để sống và trả nghiệp thì phải lao động, để có công điểm đổi lấy cái ăn. Ở đấy có những địa danh gắn với các chức năng riêng biệt phù hợp với sinh hoạt và lao động để trả nghiệp trần gian. Mỗi người chết, khi xuống đến trạm dừng chân Vong Xuyên, chuẩn bị qua sông vào đất Nam Bình Phủ phải đeo trên cổ hai cái lọ đựng nước mắt dương gian khóc người âm thế. Nước mắt yêu thương thì rất nhẹ nhưng oán hận lại rất nặng. Họ phải sống, lao động và yêu thương cho đến khi oán hận cạn dần. Và đến lúc chuyển sinh sẽ để lại hai lọ nước mắt ấy đã hóa ngọc soi sáng cho địa phủ muôn đời.

Âm phủ là nơi xuống dễ, lên khó, mọi việc theo một chiều từ trên trần gian xuống âm phủ, không (hoặc có rất ít trong các trường hợp đặc biệt) chiều ngược lại. Có lẽ đây là tiền đề mấu chốt cho những tình huống dở khóc dở cười mà tác giả đã dụng công. “Mỗi người từ dương gian chết xuống mới chỉ đi được nửa vòng đời, đấy là cõi tạm, là sống gửi. Chết xuống dưới đây đi nốt nửa vòng còn lại, mới là thác về. Mọi nợ nần, ân oán trên kia gieo thì xuống đây gặt xong mới chuyển sinh được sang kiếp khác”. Vậy có thể khẳng định cõi địa phủ là cõi trần gian được mở rộng một cách rất cụ thể. Những ái ố hỷ nộ rất thực và những hệ lụy rất đời.             

Bây giờ chúng ta cùng quay trở lại với câu chuyện chuyến xe 07 với 5 người gồm 4 hành khách và một lái xe. Thoạt tiên chắc chắn người đọc sẽ tưởng rằng đây một chuyến xe ghép. Suốt cả chặng đón khách, những người lên xe cũng bình thường với những chi tiết như ta thường gặp nhưng ngờ ngợ một chút ma mị. Và đến khi ta hiểu ra đây là một chuyến xe chở người đã chết nơi trần gian đến địa phủ thì cảm giác hơi rợn một chút nhưng không hề ngạc nhiên. Thực mà hư, hư mà thực, người đọc đằm mình vào cái mịt mờ, lạnh lẽo của câu chuyện mà tin là thật. Đây là tài kể và tả của người viết.

Nhưng cuốn tiểu thuyết không chỉ tập trung cho 5 nhân vật này. Từ chương hai trở đi 5 nhân vật hòa trộn với các nhân vật khác để người đọc thấy được cuộc sống nơi Nam Bình Phủ. Đấy là một cộng đồng nhiều thế hệ từ cụ kỵ đến cháu chắt, có người đã cả nghìn năm dưới âm phủ như Tổng Trấn... Dù vậy nhưng người ta bình đẳng yêu thương tôn trọng nhau. Những kẻ có tội như lão Vàng Dưa cũng chẳng khiến người ta nỡ hắt hủi. Người dưới cõi âm lúc nào cũng đau đáu nhớ về người thân trên trần thế, xót xa cho người thân trước mọi biến cố trần gian. Lo lắng cho người nhà bị mất tiền với bọn quỷ ma nơi trần thế như đám ma tăng chùa Tam Hoàng. Lo nhưng không làm gì được vì luật chỉ cho người trần gửi xuống âm chứ người âm không thể gửi lên cho người đang sống.

Nhưng người trên trần hoặc vì quá ích kỷ, hoặc vì quá yêu thương người đã khuất mà vô tình lạc vào cõi u mê, dính phải những cạm bẫy của những kẻ buôn thần bán thánh. Họ cúng tiến vàng mã, họ cầu hồn, họ giải nghiệp áp vong oan gia trái chủ. Thành thử người cõi âm lại gánh thêm nghiệp chướng do người thân của họ gây ra.

Và cái luật trên có quyền đưa xuống nhưng dưới không có quyền đưa lên rất mất dân chủ ấy sinh ra nhiều sự oái oăm hệ lụy khiến người âm dở khóc dở cười. Ngoài việc phải làm lụng để giải nghiệp thì người âm tự nhiên gánh thêm nghiệp nuôi mã trần gian gửi xuống. Vì là hàng một chiều, không thể trả lại nên người nhận phải lăn lưng ra làm để nuôi mã, phải lo chỗ ở, lo ăn uống, chăn dắt, lo học lái xe, lái máy bay và chờ cho đám mã ấy đủ ngày giờ địa phủ hóa lại thành giấy.

Ngay cả vị Tổng Trấn đạo cao đức trọng đã định cư âm phủ cả nghìn năm cũng phải nhận hàng đống mã trên trần gửi xuống nhân một dịp hội làng. Bậc Trưởng thượng cõi âm bất lực “đứng như chết rồi giữa đám voi chầu hổ phục… giữa trùng trùng lính trận quát ầm lên bảo ban tổ chức là những thằng nào, bắt chúng nó xuống đây chăn mã hết”, “phía xa xa bãi chăn thả Nam Bình nơi các cụ ông cụ bà miệt mài cắt cỏ, hốt phân lồng trong tiếng chửi réo rắt “cha vạn đời tổ chúng nó chứ…” là một trong nhiều chi tiết cười ra nước mắt.

trang bìa cuốn sách của tác giả nguyễn hải yến.jpg -1
Bìa cuốn “Chuyến xe đi giữa sương mù” của Nguyễn Hải Yến.

Dụng công xây dựng một mô hình địa phủ rất thực như vậy nên tác giả triển khai được nhiều chi tiết liên hệ có giá trị tố cáo kẻ tham nhũng, vô ơn như lão Vàng Dưa, tố cáo sự huênh hoang lọc lừa và vô cảm trong đại dịch nơi trần thế và nhất là bọn ma tăng chùa Tam Hoàng làm tiền bằng thủ đoạn áp vong “oan gia trái chủ” ...

Một điều khá đặc biệt là bên cạnh những đoạn miêu tả rất ám ảnh của “Chuyến xe đi giữa sương mù” chúng ta được thấy không khí sôi động qua sinh hoạt của người địa phủ. Sự việc nối tiếp sự việc, chi tiết đan cài và liên kết giữa các chương của tiểu thuyết một cách logic, nhân vật hành động, nhịp truyện khá nhanh như phóng sự là điều rất lạ, rất mới của một cây bút nữ. Với giọng văn khoáng hoạt pha chút giễu cợt hài hước, người đọc vừa đọc vừa mủm mỉm với những chi tiết, những hành động, những lời thoại vừa tươi tắn, dân dã đậm chất trào lộng. Cõi âm lạnh lẽo tự nhiên sáng lên đầy sôi động ấm áp.

Tuy nhiên do tác giả chỉ quan tâm sự việc, không có trục nhân vật xuyên suốt tiểu thuyết được khai thác tâm lý nên với một hệ thống nhân vật đông đảo và đa dạng của cả cõi người (âm và trần) thì không phải ai cũng nắm được rõ ràng tính cách nhân vật một cách thấu đáo.

Gấp cuốn sách lại tôi chợt nhận ra mọi tội lỗi trên đời đều theo đúng luật nhân quả. “Chuyến xe đi giữa sương mù” của Nguyễn Hải Yến như là một thông điệp gửi đến người trần gian rằng đang có một Nam Bình Phủ sâu hơn mười ngàn mét ngay dưới chân ta. Đó là nơi xuống dễ, lên khó; xuống an nhiên, lên yêu thương để lại. Nơi ấy vốn có ngày có đêm nhưng không có mặt trời. Nơi ấy đang cần những yêu thương hóa ngọc để soi sáng. Có được điều ấy hay không phụ thuộc vào tất cả những gì ta đang làm trên trần thế hôm nay.

Nam Định, Tháng 3/2024

Mai Tiến Nghị

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).